Tôi đi mãi đến cuối hẻm, quay đầu nhìn một cái.
Trong cửa sổ căn nhà cũ lộ ra ánh đèn vàng ấm, nhỏ nhỏ, xa xa, giống một ngôi sao rơi xuống từ trời.
Trong ánh đèn có một bóng người mờ mờ đang đi lại, đó là mẹ tôi, có lẽ bà đang thay nước cho Tiểu Ngoan, hoặc đang thu quần áo hôm nay phơi ngoài ban công.
Vĩ thanh: Nửa sau cuộc đời của bà.
Mùa xuân năm 2024, mẹ tôi đi Vân Nam.
Đây là lần thứ hai bà đi Vân Nam.
Lần trước là Đại Lý, Lệ Giang, lần này là Tây Song Bản Nạp.
Bà đi cùng ba người chị em ở đại học người cao tuổi, tổng tuổi bốn người cộng lại vượt quá hai trăm bốn mươi, được gọi là “hội bạn thân cao tuổi”.
Mỗi ngày bà gửi ảnh trong nhóm.
Ảnh bị tạt ướt cả người ở lễ hội té nước, cười đến không thẳng lưng nổi; ảnh mặc váy ống trong vườn dân tộc Thái, ngại ngùng che miệng; ảnh ở thung lũng voi hoang, con voi dùng vòi cuốn mũ của bà khiến bà kinh ngạc hét lên.
Có một tấm ảnh là bà đứng trong vườn trà ở Mãnh Hải, đội mũ rơm, trong tay nâng một nắm lá trà vừa hái, ánh nắng chiếu đến từ sau lưng bà, nhuộm gương mặt bà thành một màu vàng ấm.
Phía sau bà là những ngọn núi trà liên miên nhấp nhô, từng luống từng luống cây trà giống những bậc thang màu xanh trải dài đến tận chân trời.
Bà cười rất rạng rỡ, hai hàng răng đều tăm tắp lộ hết ra, nếp nhăn nơi khóe mắt chen vào nhau, giống một đóa cúc đang nở.
Tôi lưu tấm ảnh đó làm hình nền điện thoại.
Bây giờ mỗi tuần bà đều có lịch cố định.
Thứ Hai nhảy quảng trường, thứ Tư lớp quốc họa, thứ Sáu lớp thưởng thức thơ ca ở đại học người cao tuổi, cuối tuần cùng bạn đi leo núi ngoại ô hoặc dạo công viên.
Bà học được cách dùng phần mềm chỉnh sửa video, mỗi lần ra ngoài đều cắt một đoạn video ngắn gửi trong nhóm.
Tên tài khoản của bà là “Dì Tú Lan”, phần giới thiệu viết là “người phụ nữ tuổi hưu, yêu hoa cỏ và muông thú, người mới học quốc họa”.
Bà còn biết gửi bình luận nổi trên màn hình; khi xem phim truyền hình, bà gửi liên tiếp những câu “ha ha ha” và “diễn hay lắm”, bị tôi và em trai cười rất lâu, bà nói như vậy gọi là theo kịp thời đại.
Bà học được cách mua quần áo mới cho mình, học được cách dùng một nền tảng thương mại điện t.ử chuyên bán quần áo nữ trung niên và cao tuổi, có một lần mua liền năm bộ, trả lại ba bộ, lý do là “mặc không đẹp”.
Ba chữ “không đẹp” này, trước kia bà chưa bao giờ dùng trên người mình.
Trước kia tiêu chuẩn mua quần áo của bà chỉ có hai chữ là thực dụng.
Đẹp hay không đẹp chưa bao giờ nằm trong phạm vi cân nhắc.
Bây giờ bà biết chọn màu rồi, biết xem kiểu dáng rồi, biết mặc cả với chăm sóc khách hàng rồi.
Mùa đông năm ngoái, một mình bà đi Tây An xem binh mã dũng.
Đó là lần đầu tiên trong đời bà ngồi tàu cao tốc, trước kia đi xa nhất cũng chỉ là ngồi xe đường dài về nhà bà ngoại.
Bà ngồi ghế cạnh cửa sổ, chụp phong cảnh ngoài cửa sổ gửi cho tôi.
Bà nói tàu cao tốc nhanh thật đấy, nếu bà ngoại con còn sống thì tốt rồi, mẹ có thể đưa bà ra ngoài đi dạo.
Bà chụp một tấm ảnh ở cổng bảo tàng binh mã dũng, mặc chiếc sườn xám màu xanh đậm đó, bên ngoài khoác cardigan màu xám nhạt, quàng chiếc khăn lụa tôi tặng, đứng trong đám đông không hề lạc lõng chút nào, ngược lại giống kiểu bà cụ trí thức sau nghỉ hưu đi du lịch khắp nơi.
Khi gọi điện cho tôi, ngữ khí của bà mang theo một sự nhẹ nhàng trước kia chưa từng có.
“Con biết không?”
Bà nói ở đầu dây bên kia.
“Tần Thủy Hoàng xây binh mã dũng này mất gần bốn mươi năm. Khi ông ấy thống nhất sáu nước mới ba mươi chín tuổi, xây lăng mộ mãi đến khi c.h.ế.t. Mẹ nghe hướng dẫn viên kể những chuyện này trong bảo tàng, bỗng nghĩ, đời người thật ra khá ngắn. Con xem, một nhân vật lớn như Tần Thủy Hoàng, đến cuối cùng cũng chỉ có một đống tượng gốm bồi táng. Những người dân bình thường như chúng ta càng nên sống cho thật tốt.”
Trước kia bà chưa từng nói với tôi những điều này.
Trước kia những gì bà nói với tôi đều là “ăn chưa”, “trời lạnh rồi mặc thêm áo”, “đừng cứ thức khuya”.
“Mẹ, sao mẹ bắt đầu nghiên cứu lịch sử rồi?”
“Rảnh rỗi thôi.”
Bà cười.
“Trước kia làm gì có thời gian rảnh.”
Mỗi tháng bà sẽ đến thăm tôi một hai lần, lần nào đến cũng mang củ cải muối bà tự làm hoặc rau xanh bà tự trồng.
Bà dùng báo bọc rau xanh lại, bỏ vào túi vải, ngồi hai tiếng xe đường dài mang đến.
Trước kia tôi cảm thấy bà làm vậy rất phiền, nói với bà không cần mang, trong thành phố cái gì cũng có.
Ngoài miệng bà đồng ý, lần sau vẫn mang.
Bây giờ tôi không nói nữa, bây giờ tôi biết đó không phải là rau xanh, đó là cách bà yêu chúng tôi.
Bà chỉ có thể dùng cách quen thuộc của mình để bày tỏ tình yêu, trước kia chúng tôi không hiểu, bây giờ nên hiểu rồi.
Bố tôi đôi khi cũng nhìn thấy những bức ảnh bà đăng trên vòng bạn bè.
Ông chưa bao giờ thả thích, cũng không bình luận, nhưng tôi biết ông đã xem từng bài một.
Có một lần tôi đến thăm ông, ông đang lướt vòng bạn bè của mẹ tôi trên điện thoại, phóng to từng tấm ảnh xem, ngay cả tách trà ở góc ảnh cũng xem rất kỹ.
Ông không phát hiện tôi đứng phía sau, xem một lúc lâu mới đặt điện thoại xuống, dựa vào sofa, nhắm mắt lại.
Màn hình điện thoại của ông vẫn sáng, bên trên là tấm ảnh mẹ tôi đứng trong vườn trà.
Đến nay ông vẫn chưa tìm người khác.
Họ hàng khuyên ông tìm thêm một người sống chung qua ngày, ông đều từ chối.
Có một lần uống rượu, ông nói với em trai tôi một câu không đầu không đuôi.
“Người như mẹ con, khó tìm lắm.”
“Người như vậy” mà ông nói là người thế nào?
Là người mỗi sáng năm giờ rưỡi dậy nấu bữa sáng cho ông, là người bưng bát cháo lên bàn vừa đúng bảy mươi độ không bỏng miệng, là người khi ông sốt cả đêm không ngủ canh bên cạnh, là người chăm mẹ ông liệt giường ba năm bưng phân đổ nước tiểu không một câu oán trách.
“Người như vậy” mà ông nói, ông tìm ba năm cũng không tìm được.
Bởi vì người phụ nữ như vậy, dưới gầm trời này chỉ có một, và ông đã tự tay đ.á.n.h mất bà.
Tôi không biết nếu mẹ tôi thấy những điều này sẽ nghĩ thế nào.
Có lẽ bà căn bản sẽ không nghĩ đến.
Trước kia bà đã dành quá nhiều thời gian cho người khác.
Nghĩ người khác nhìn bà thế nào, nghĩ người khác có vui không, nghĩ người khác cần gì.
Bây giờ bà chỉ muốn sống tốt những ngày còn lại của chính mình.
Những ngày đó thuộc về bà, không cần chia cho bất cứ ai nữa.
Năm năm mươi ba tuổi, bà đã đưa ra quyết định dũng cảm nhất trong đời.
Tất cả mọi người đều mắng bà, bao gồm cả chúng tôi, những người thân nhất.
Mấy năm trôi qua, thời gian đã đưa ra câu trả lời công bằng nhất.
Những người năm đó từng mắng bà như chúng tôi, từng người một đều bị hiện thực vả mặt.
Nhưng ngược lại tôi cảm thấy may mắn.
May mắn vì bà không bị chúng tôi mắng đến quay về, may mắn vì bà không mềm lòng, may mắn vì bà đã kiên trì đến cùng.
Nếu khi đó bà mềm lòng, nếu bà bị chúng tôi khuyên ngăn lại, bây giờ bà vẫn ở trong căn nhà ba phòng ngủ một phòng khách kia, cong lưng lau tro t.h.u.ố.c trên bàn trà, nghe tiếng ngáy của bố tôi mất ngủ đến sáng, nuốt cay đắng vào lòng, giấu mọi tủi thân dưới gối.
Bà đã dạy tôi một chuyện quan trọng nhất.
Cuộc đời của phụ nữ không chỉ có hai vai trò là vợ và mẹ.
Sau khi sống vì tất cả mọi người hơn nửa đời, bà có quyền sống vì chính mình.
Đây không phải ích kỷ, đây là thức tỉnh.
Đây không phải bày chuyện vô ích, đây là tự cứu mình.
Bà không phải vật phụ thuộc của ai, không phải bảo mẫu miễn phí của ai, không phải công cụ sinh con nối dõi của ai.
Bà là một con người, một con người hoàn chỉnh, độc lập, có quyền theo đuổi hạnh phúc.
Tôi mất rất lâu mới hiểu, năm mươi ba tuổi ly hôn không phải quá muộn, mà là vẫn chưa muộn.
Chỉ cần còn có thể vì mình mà đưa ra một lựa chọn, bất cứ lúc nào cũng không tính là muộn.
Bây giờ mỗi lần có người nhắc với tôi chuyện “mẹ cậu ly hôn”, tôi đều sẽ rất bình tĩnh nói với họ: “Năm mẹ tôi năm mươi ba tuổi, bà đưa ra một quyết định, khi đó tất cả mọi người đều mắng bà bày chuyện vô ích, mấy năm trôi qua, sự thật chứng minh rằng chuyện đúng đắn nhất bà làm trong đời này chính là năm năm mươi ba tuổi, bà đã chọn chính mình.”
Tôi tự hào về mẹ tôi.
Bà đã dùng hơn nửa đời để làm mẹ của chúng tôi, làm vợ của người khác, làm con dâu của mẹ chồng.
Bây giờ cuối cùng bà cũng có thể làm chính mình.
Mà con người chân thật ấy của bà còn rực rỡ hơn chúng tôi tưởng tượng rất nhiều.