Sau khi bãi đường, cháu gái nhỏ của ông mím c.h.ặ.t cái miệng thiếu răng cửa, suốt đường không thèm để ý đến ông.
Đến lần mở công đường tiếp theo, La sao công tự mình xin xét hỏi lại, kể hết quá trình thay thuyền, dìm lương thực và giả mạo công văn về nạn lụt năm đó.
Chưa qua mấy ngày, lại có người vin vào thân phận gia nô của Chúc quản sự, nói lời khai của ông không thể dùng làm bằng chứng.
Bùi Nghiễn Thư đến trạm dịch cũ một chuyến. Khi trở về, vạt áo hắn đầy bùn, trong tay có thêm ba lá thư Chúc quản sự từng gửi lưu giữ từ nhiều năm trước. Lớp sáp niêm phong vẫn nguyên vẹn, ngày đề thư cũng có từ trước khi Lục gia bị tịch biên, nội dung bên trong có thể đối chiếu với lời khai của La sao công, con số trên thẻ tre và nửa trang bản sao sổ vận chuyển.
Đối phương bác bỏ một phần chứng cứ, Bùi Nghiễn Thư lại đến lục tìm thêm một trạm dịch, hãng thuyền hoặc nhà kho cũ khác.
Khoảng thời gian ấy mưa rất nhiều, đế giày hắn chưa từng khô.
Chúng ta không đóng cửa tiệm, chỉ treo thêm một tấm biển gỗ bên cửa:
Nợ thì vẫn phải trả, hỏi án thì không đáp.
Thế nhưng ai cũng đến hỏi.
“Lục gia thật sự sắp được minh oan sao?”
“Không biết.”
“Cung Đại gia đã khai ra ai rồi?”
“Không biết.”
“Vậy ngươi biết gì?”
“Hôm nay có nhân thịt hẹ.”
Việc làm ăn vậy mà còn tốt hơn trước.
Mỗi ngày Cố Khỉ Nương đều đến Đại Lý Tự làm chứng, trở về vẫn ngồi xuống gói hoành thánh. Bà không còn sợ bị người khác nhận ra, tóc cũng luôn được b.úi ngay ngắn không một sợi rối.
Đường Âm tính sổ nhanh như bay. Khách thiếu một văn, nàng ngồi cách hai chiếc bàn cũng nghe ra.
“Không phải bốn mươi chín văn, là năm mươi văn.”
“Tiểu nương t.ử, một văn cũng phải so đo sao?”
“Một văn cũng là tiền.”
Lời này rất giống ta.
Ta vô cùng đắc ý, nhưng không dám nói.
Một buổi sáng trước khi vào đông, quan tuyên chỉ đến ngõ Hòe Hoa.
Án oan của Lục gia được rửa sạch. Lục đại nhân được thả khỏi chiếu ngục, khôi phục chức quan; gia nô đã c.h.ế.t và những người bị liên lụy đều được trợ cấp theo lệ. Cố Khỉ Nương và Đường Âm được xóa bỏ tội tịch, nhà cũ cùng ruộng đất được hoàn trả.
Người quỳ kín cả con phố.
Ta ôm Tuế Ninh quỳ ở ngoài cùng. Khi nghe đến tên “ấu nữ Lục thị, Lục Tuế Ninh”, nàng đang kéo hoa tai của ta.
Quan tuyên chỉ đọc xong, Cố Khỉ Nương không lập tức tiếp chỉ.
Bà xoay người, dập đầu trước ta.
Ta sợ đến mức suýt ném Tuế Ninh ra ngoài.
“Phu nhân!”
Bà nắm lấy tay ta.
“Một lạy này là ta nợ ngươi.”
Đường Âm cũng quỳ xuống.
“Ta cũng nợ ngươi.”
Ta cuống quýt túm loạn, cuối cùng kéo Bùi Nghiễn Thư bên cạnh tới.
“Huynh mau quản họ đi.”
Hắn nhìn ta một cái.
“Ta không quản được Lục phu nhân.”
“Vậy huynh có tác dụng gì?”
Cả con phố đều bật cười.
Ta cúi đầu chỉnh lại cổ áo cho Tuế Ninh, nhưng nước mắt lại từng giọt rơi xuống đầu nàng.
Nàng chê ta làm ướt tóc mình, còn giơ bàn tay nhỏ đẩy cằm ta ra.
23
Ngày trở về Lục trạch, Đường Âm đứng trước cửa rất lâu.
Tấm biển mới đã được treo lên, nhưng ngưỡng cửa vẫn là ngưỡng cửa cũ, bên trên còn lưu lại vết khuyết do rìu c.h.é.m vào ngày Lục gia bị tịch biên.
Cố Khỉ Nương không cho người sửa.
“Cứ giữ lại đi.”
Khi Lục đại nhân được thả khỏi chiếu ngục, ông đã gầy đến mức phải có người dìu. Ông đứng trước ngưỡng cửa cũ một lát, trước tiên ôm lấy Cố Khỉ Nương, sau đó xoa đầu Đường Âm.
Tuế Ninh trốn sau váy ta, chỉ chịu thò ra một bàn tay. Ông ngồi xổm không vững, dứt khoát vịn ngưỡng cửa ngồi xuống, đưa ngón trỏ cho nàng. Sau khi Tuế Ninh nắm lấy, ông cứ ngồi như vậy, hồi lâu không nỡ rút tay về.
Đến lượt ta, ông trịnh trọng chắp tay hành lễ.
“Lục mỗ đa tạ cô nương đã bảo vệ thê nữ của ta.”
Ta vội tránh sang một bên.
“Khoan cảm ơn. Chúng ta vẫn còn nợ lò rèn hai mươi văn, tính vào nhà ông.”
Ông sững ra, Cố Khỉ Nương bật cười rồi dìu ông vào cửa. Ông dưỡng bệnh rất lâu mới trở lại làm việc. Sau khi nhận được bổng lộc, ông còn đặc biệt đến Hòa Ký trả hết hai mươi văn ấy.
Chúng ta chuyển về Lục trạch, nhưng không đóng cửa Hòa Ký.
Hai bà t.ử trong nhà bếp không nấu ra được hương vị ban đầu, Cố Khỉ Nương liền đuổi cả hai đến ngõ Hòe Hoa học ta. Một người chê ta còn trẻ, một người chê thủ pháp thô vụng, nhưng sau khi nếm phần nhân ta trộn, cả hai đều ngậm miệng.
Đến mùa thu năm sau, phương bắc cuối cùng cũng gửi thư về.
Lục Hoài Chương vẫn còn sống.
Sau khi bị tập kích tại trạm Hắc Thủy, hắn lăn xuống khe núi, được dân làng gần đó cứu. Khi tỉnh lại đã vào đông, giấy thông hành và lộ phí đều mất sạch, những lá thư nhờ người gửi đi cũng bặt vô âm tín. Mãi đến khi một đoàn thương nhân phương bắc trở về kinh, hắn mới khâu thư nhà vào lớp lót áo da của người dẫn đoàn.
Ngày hắn về kinh, Cố Khỉ Nương đã sớm ra cổng thành chờ. Đường Âm nói mình sẽ không khóc, nhưng trong tay áo lại nhét ba chiếc khăn.
Ta không đi.
Ta ở lại cửa tiệm nấu một nồi hoành thánh.
Chạng vạng, một thanh niên cao gầy bước vào cửa, khắp người đầy bụi đường, bên mày phải có thêm một vết sẹo.
Hắn nhìn thấy Tuế Ninh, bước chân lập tức khựng lại.
Tuế Ninh đã biết chạy, trốn sau váy ta, chỉ thò nửa khuôn mặt ra.
Lục Hoài Chương từ từ ngồi xổm xuống.
“Ninh Ninh, ta là Đại ca.”
Tuế Ninh nhìn hắn hồi lâu.
“Ăn hoành thánh thì phải trả tiền trước.”
Cả phòng đều bật cười.
Lục Hoài Chương cũng cười, nhưng nước mắt lại rơi xuống đất.
Hắn ăn hai bát lớn rồi đặt xuống một thỏi bạc nhỏ. Ta vẫn như thường lệ trả lại tiền thừa.