Ta không đáp lời, chỉ im lặng đợi hắn nói tiếp.
Quả nhiên, ngừng một lát, hắn lại nói: "Tri Diên, thay Chiêu nhi, ta cảm ơn nàng."
"Chính nàng đã cho nó một mái nhà trọn vẹn lần nữa."
"Trước kia ta hiểu lầm nàng, cứ ngỡ nàng chịu gả vào Hầu phủ chỉ vì tham phú quý."
"Sau này chúng ta chung sống hòa thuận, được không?"
"Nếu tỷ tỷ nàng dưới suối vàng có biết, chắc cũng mong phu thê chúng ta hòa thuận."
Ta khẽ thở dài, vẫn nói rõ ràng: "Bùi Nghiễn Chi, quá muộn rồi."
"Nếu đêm động phòng chàng chịu đối đãi với ta bằng tấm lòng ấy, ta đương nhiên nguyện cùng chàng sống cho tốt."
"Nhưng khi xưa chàng không muốn ta, liền t/ùy tiện chà đạp tôn nghiêm của ta."
"Giờ chàng muốn quay đầu, chỉ dựa vào vài lời ngon ngọt đã đòi ta vui vẻ đón nhận, trên đời làm gì có chuyện công bằng như thế."
Mặt hắn lập tức trắng bệch: "Nàng vẫn không chịu tha thứ cho ta sao?"
"Chuyện này chẳng liên quan đến tha thứ", ta bình thản đáp, "ta chỉ không muốn bạc đãi bản thân thêm nữa."
"Chàng mới chỉ có đôi chút thích ta, còn xa mới gọi là yêu, vì vậy cũng đừng làm ra vẻ đau đớn như vừa mất người thương."
"Sau này vì Chiêu nhi, chàng và ta chỉ cần giữ vẻ hòa thuận trước mặt người khác là đủ."
Bùi Nghiễn Chi nghiến c/h/ặ/t răng, gần như rít từng chữ: "Thẩm Tri Diên, nàng thật sự chẳng có trái tim."
Ta khước từ lời làm lành muộn màng của Bùi Nghiễn Chi.
Lời hay đến muộn vốn chẳng đáng giá.
Thoắt cái đã đến năm Bùi Chiêu tám tuổi.
Bùi Kính Xuyên tham gia cuộc săn mùa xuân của hoàng gia, ngã khỏi lưng ngựa.
Giữ được mạng, nhưng từ đó ông ta liệt giường, miệng không nói được.
Bùi Nghiễn Chi kế thừa tước vị, trở thành Định Viễn hầu đời kế tiếp.
Ta cũng thành Hầu phu nhân, còn Hầu phu nhân trước kia được tôn làm lão phu nhân.
Cuối cùng lão phu nhân cũng được sống những ngày tháng mình mong muốn.
Chúng ta cùng đến chùa tạ nguyện, bên ngoài tất nhiên nói là cầu phúc cho lão Hầu gia.
Xe ngựa chầm chậm đi trên đường lớn trong thành.
Lão phu nhân vén rèm nhìn chàng hộ vệ trẻ tuổi dáng người thẳng tắp trên lưng ngựa, khóe môi khẽ cong.
Ta nhẹ giọng khen: "Tiểu Trình võ nghệ thật giỏi, ra vào trường săn hoàng gia mà như đi trong sân nhà mình vậy."
Lão phu nhân thở dài: "Cũng tại lão Hầu gia kém may mắn."
"Tối hôm trước cứ nhất định đòi uống rượu, dù đã ngủ qua một đêm, đầu óc và tay chân vẫn sẽ chậm chạp."
Xe ngựa bỗng dừng lại, phía xa vọng đến tiếng nhạc đưa tang.
Bà hầu theo xe bẩm ngoài rèm: "Lão phu nhân, Hầu phu nhân, phía trước có đoàn đưa tang, xe chúng ta phải tránh một lát."
Ta vén rèm nhìn ra, thấy nam nhân mặc áo tang kia quen mắt vô cùng, nhìn kỹ mới nhận ra là Hạ Xuyên.
Hắn chính là người phu quân trẻ tuổi của Phương thị.
Sau khi rời Hầu phủ, hai người đã thành thân.
Chưa đầy hai tháng, Hạ Xuyên lại nạp một tiểu thiếp, nghe nói người ấy còn do chính Phương thị chọn.
Tiểu thiếp nhanh ch/óng mang thai.
Có lẽ Phương thị từng tính chuyện giữ con bỏ mẹ, kết quả khi sinh nở, cả mẹ lẫn con đều bình an.
Còn bệnh tình của chính bà ta lại ngày một nặng.
Cuối cùng, bà ta là người không gắng gượng nổi trước.
Xe ngựa tiếp tục lên đường, tiếng nhạc đưa tang xa dần, cho đến khi chẳng còn nghe thấy.
Đến chùa thắp hương, dâng tiền dầu đèn xong, lão phu nhân bảo ta: "Ta muốn đi dạo một mình, con không cần theo."
"Trong chùa mới có một vị sư trẻ giảng kinh, ta đã sai người đi mời, con cứ trò chuyện với thầy ấy thử xem, biết đâu sẽ có được điều tâm đắc mới."
Ta chẳng hiểu ra sao: "Con không hứng thú với mấy chuyện này, cũng chẳng hiểu kinh Phật."
Lão phu nhân vỗ tay ta, cười đầy ẩn ý: "Gặp người rồi tự khắc con sẽ hiểu."
Khi vị sư trẻ ấy theo lối núi đi tới, ta lập tức hiểu lời ám chỉ của lão phu nhân.
Vị sư giảng kinh này có dung mạo xuất chúng, là hòa thượng đẹp nhất ta từng gặp.
Thân hình chàng cao ráo, thẳng tắp, đứng bên đường tựa một thân trúc xanh.
Ống tay tăng bào rộng rủ xuống theo từng cử động, lúc chàng lần tràng hạt gỗ mun, cổ tay gầy với những đường xương hiện lên rõ nét.
Rõ ràng đã đoạn tuyệt duyên trần, ngũ quan chàng vẫn tuấn tú đến lay động lòng người, tăng bào vải thô cũng không giấu nổi phong thái thanh quý ấy.
Ta bất giác nín thở trong thoáng chốc.
Suốt đường về phủ, ta cứ ngẩn ngơ.
Lão phu nhân nhìn ta cười mãi.
Ta đỏ mặt giải thích: "Con đã thắp đèn trường minh cho tỷ tỷ trong chùa, từ nay cứ mồng một, mồng tám, rằm và ngày hai mươi mỗi tháng đều phải đích thân đến thêm hương."
Bà chỉ "Ồ" một tiếng.
Mặt ta càng nóng hơn.
Thì ra rung động là cảm giác thế này.
Khi bước vào phủ, ta vẫn như đang đi trên mây, nụ cười trên mặt chẳng sao giấu nổi.
Hạ nhân bẩm báo di nương đến thăm.
Thiếp thất không thể t/ùy tiện đến cửa Hầu phủ.
Hôm nay di nương được ra ngoài, ắt đã có sự cho phép của phụ thân và đích mẫu.
Kỳ khảo hạch sáu năm của phụ thân sắp đến.
Với một viên quan lục phẩm như ông ấy, việc thăng giáng hoàn toàn trông vào lời nhận xét của cấp trên.
Không có ai tiến cử thì khó thăng quan, nếu đ/á/n/h giá chỉ ở mức bình thường, e cả đời phải dừng lại ở lục phẩm.
Phụ thân muốn nhờ Bùi Nghiễn Chi nói giúp, lại biết ta ghét đích mẫu nên mới cho di nương ra mặt.
Nói xong chuyện phụ thân, bà ấy lại nhắc đến đệ đệ.
Đệ đệ thi khoa cử bị đ/á/n/h trượt.
Vậy mà phụ thân còn muốn nhờ Bùi Nghiễn Chi đặc cách tiến cử, trực tiếp dâng tấu lên bệ hạ.
Nghe xong, ta bật cười.
Cả nhà này đúng là mặt dày thật.
Di nương gặng hỏi: "Con cười cái gì?"
Ta đáp: "Cười mọi người mặt dày."
Bà ấy sững ra một lát, lập tức nổi giận: "Thẩm Tri Diên, con có ý gì?"
"Giờ làm Hầu phu nhân rồi thì ngay cả người nhà mẹ đẻ cũng không nhận nữa sao?"
"Đừng quên năm xưa nếu không có ta, phụ thân con vốn chẳng chọn con gả vào Hầu phủ đâu!"
Ta thôi cười, cất tiếng gọi: "Di nương."
Bà ấy ngây người trước ánh nhìn của ta.
Ta bình thản nói: "Mọi người nên mừng vì con chỉ không đoái hoài đến mọi người, chứ chưa hề trả thù."
"Hồi nhỏ mọi người chẳng ngó ngàng đến con, bây giờ đôi bên không quan tâm nhau, rất công bằng."
Mặt di nương lập tức trắng bệch, đôi môi run rẩy dữ dội.
Bà ấy như lần đầu nhìn rõ con người ta.
Sau khi di nương rời đi, ta không trở về Thẩm gia thêm lần nào nữa.
Phụ thân chỉ được đ/á/n/h giá bình thường trong kỳ khảo hạch, cuối cùng chẳng thể thăng quan.
Đệ đệ thi mãi không đỗ, về sau nhờ nhà ngoại của đích mẫu tìm cho một chức quan cửu phẩm nhỏ, sống tầm thường hết phần đời còn lại.
Bùi Nghiễn Chi giữ Hầu phủ, cùng ta kính trọng nhau mà lạnh nhạt như băng.
Còn Chiêu nhi lớn lên ngày càng giống ta, mở miệng là "nhị di thế này", "nhị di thế nọ", khiến hắn tức đến phải day trán liên tục.
Lão phu nhân càng sống càng tự tại, hộ vệ Tiểu Trình chẳng rời nửa bước, các quý phu nhân kinh thành lén ghen tị châm chọc, bà chỉ coi như không nghe.
Tháng nào ta cũng đều đặn đến chùa dâng hương, không bỏ một lần.
Vị sư trẻ giảng kinh ấy từ xa trông thấy ta đến liền cụp mắt chắp tay, nhưng vành tai đã lặng lẽ đỏ bừng.
Năm Chiêu nhi mười tuổi, nó ngẩng đầu hỏi ta: "Nhị di, sau này dì có xuất gia không?"
Ta gõ đầu nó một cái: "Nói linh tinh gì thế, nhị di chỉ đến nghe giảng kinh thôi."
Nó "ồ" một tiếng, lại hỏi: "Vậy hòa thượng ấy có đẹp không?"
Ta: "..."
Đứa trẻ này, rốt cuộc giống ai vậy chứ.
HẾT.