Lời này lại đẩy Khương Chiếu Vi vào thế khó.
Nàng vội vàng giải thích, nói tiền tháng mỗi tháng phát cho Xuân Hạnh chưa bao giờ thiếu.
Ta tiện miệng tiếp lời nàng: “Thiếu hay không, lật sổ sách ra là biết. Nha hoàn trong Hầu phủ mỗi tháng được bao nhiêu, viện của muội phát bao nhiêu, tra cho rõ là được.”
Khương Chiếu Vi đột nhiên nhìn ta, trong mắt cuối cùng cũng không còn vẻ giả tạo.
Ta đứng dậy đi đến trước mặt nàng, phủi giúp nàng chút tro đèn rơi trên vai.
“Muội muội, muốn chụp cho ta cái mũ trộm cắp thì trước hết hãy quản cho tốt người trong viện của mình. Muội dùng nàng ta để bày kế hãm hại ta, lại tiếc không cho nàng ta thêm vài đồng tiền, nàng ta đương nhiên sẽ quay đầu phản lại muội.”
“Lòng người còn quý hơn cây trâm, món nợ này muội tính thiệt rồi.”
Mặt Khương Sùng đen như đáy nồi. La thị muốn giảng hòa, há miệng mấy lần, cuối cùng chỉ sai người kéo Xuân Hạnh xuống bán đi.
Ta giơ tay ngăn lại: “Nàng ta trộm đồ, nên đền nên phạt. Nhưng nàng ta bị người sai khiến, chủ mưu còn chưa tra rõ đã vội bán người, Hầu phủ đây là muốn diệt khẩu thay cho ai?”
Xuân Hạnh vừa khóc vừa dập đầu, đem toàn bộ chuyện Khương Chiếu Vi hứa hẹn với nàng ta thế nào, bảo nàng ta nhét cây trâm vào viện của ta ra sao, tất cả đều khai ra.
Khương Chiếu Vi mềm nhũn ngã vào lòng La thị, kêu oan. Nước mắt La thị cuối cùng cũng có thêm mấy phần chân thật, nhưng theo bản năng vẫn che chở cho nàng.
Ta chẳng có hứng nhìn cảnh mẫu nữ tình thâm, bèn chìa tay về phía Khương Sùng.
“Phụ thân, nhận việc giữa đêm thì phải trả tiền quẻ.”
Ông sững người.
Ta nghiêm túc nói: “Nể tình người một nhà, mười lượng là được.”
*
Sau đêm ấy, trên dưới Hầu phủ đều biết nhị cô nương mới trở về chẳng những biết xem quẻ, mà còn biết tính sổ.
Khương Sùng đưa ta mười lượng bạc, sắc mặt chẳng khác nào vừa nuốt phải mười con ruồi.
Ngày hôm sau, La thị phái một ma ma giáo dưỡng tới, nói ta đã trở về phủ thì sau này phải học nữ công, lễ nghi, quản gia, không thể tiếp tục nói những lời thần thần quỷ quỷ kia.
Ta nghe xong liền hỏi ma ma: “Học những thứ này có tiền tháng không?”
Ma ma nghiêm mặt: “Hầu phủ cung cấp ăn mặc cho cô nương, sao cô nương cứ mở miệng là bạc?”
“Vậy thôi.”
Ta đẩy khung thêu bà ta đưa tới về: “Việc không công, ta không nhận.”
Ma ma tức đến run người, chạy đi cáo trạng.
La thị đích thân tới một chuyến, giọng đã mềm hơn nhiều: “Thê Nguyệt, nương biết con ở bên ngoài chịu khổ, nhưng nhà chúng ta là thế gia, cô nương gia dù sao cũng phải có dáng vẻ của cô nương gia. Con bày quẻ cho hạ nhân trong viện, truyền ra ngoài thì người ta sẽ nhìn Hầu phủ thế nào?”
Dưới hành lang, ta bày một chiếc bàn vuông nhỏ. Trên bàn đặt ba đồng tiền và một tấm biển gỗ viết: “Một quẻ một lượng, già trẻ không lừa.”
“Nương, người ngoài nhìn Hầu phủ thế nào là chuyện của họ. Hầu phủ nhìn ta thế nào mới là chuyện của ta.”
Sắc mặt La thị trắng bệch.
Ta nói rõ hơn: “Các người đón ta về, là sợ Hoàng gia truy hỏi tung tích chiếc tã năm xưa, cũng sợ người ngoài nói Hầu phủ bạc đãi huyết mạch. Nếu Hầu phủ muốn ta trở về để chống đỡ cái danh phận này, vậy đừng vừa chê ta chướng mắt, vừa muốn ta thay các người che giấu chuyện mất mặt.”
Bà im lặng hồi lâu, để lại một câu “Tính con quá cứng”, rồi xoay người rời đi.
Trong lòng ta chẳng có chút gợn sóng. Chuyện tình thân, ta đã nhìn thấu từ khi còn ở trên núi. Lúc sư phụ nhặt ta về từng nói, cung phụ mẫu trong mệnh ta nhạt, cưỡng cầu cũng chẳng đổi được dịu dàng, chi bằng tự nuôi tốt bản thân.
Nay ta ăn no mặc ấm, còn có thể kiếm bạc, đã tốt hơn rất nhiều so với những ngày trên núi phải hái t.h.u.ố.c đổi gạo.
Bày quẻ được mấy ngày, Hồ thẩm ở nhà bếp lén nhét cho ta nửa lượng bạc, hỏi ta xem đứa con trai mất tích của bà có phải bị sòng bạc giữ lại hay không.
Ta gieo ba đồng tiền, nói cho bà biết người không ở sòng bạc mà đang ở lò gạch cũ phía nam thành, chân trái bị thương, bên cạnh có một thanh niên mặc áo vải xanh. Hồ thẩm khóc chạy đi, đến chiều đã đưa được con trai trở về.
Thiếu niên ấy quả thực mắc nợ c.ờ b.ạ.c, nhưng bị đồng bọn lừa đến lò gạch làm khổ sai. Hồ thẩm mang một giỏ bánh bao thịt nóng hổi đến cảm tạ ta, nhất quyết nhét thêm một lượng bạc.
Ta nhận bạc, còn bánh bao chia cho mấy tiểu nha hoàn quét tuyết trong viện.
Sau khi Hồ thẩm tìm được con trai, quản sự chuồng ngựa tới hỏi sổ sách thất lạc, mưu sĩ của Khương Sùng cũng lén đến nhờ ta xem vận thế. Ngay cả Tần ma ma nghiêm khắc nhất bên cạnh La thị cũng xách một gói điểm tâm tới hỏi cháu gái nhỏ của bà có thể qua nổi mùa đông hay không.
Ta thấy ấn đường bà tối lại, liền hỏi cháu gái gần đây có phải thường ho không, ban đêm còn khó thở hay không. Tần ma ma liên tục gật đầu.
“Đừng đốt thứ hương an thần quái quỷ ấy trong phòng nữa, bên trong pha nguyên liệu trầm hạ phẩm, xông lâu sẽ hại phổi. Mở hé cửa sổ, lấy trần bì, xuyên bối sắc nước uống, ngày mai đến Hồi Xuân đường phía đông thành tìm vị đại phu họ Đỗ.”
Ba ngày sau, Tần ma ma quỳ trước cửa phòng ta, nước mắt nhòe cả mặt, nói cháu gái đã hạ sốt.
Từ ngày ấy, trước quầy quẻ của ta chẳng còn lúc nào vắng người.
Ban đầu Khương Chiếu Vi chỉ lạnh lùng đứng nhìn, sau khi nghe hạ nhân lén gọi ta là “Tiểu Thiên Sư”, nàng liền ngồi không yên. Nàng vẫn luôn coi Hầu phủ là địa bàn của mình, nay ngay cả nha hoàn trong viện nàng cũng thà vòng đường tới chỗ ta xếp hàng, nàng tự nhiên cảm thấy ta đã cướp mất thứ vốn thuộc về mình.
Một buổi chiều sau cơn mưa, cuối cùng nàng cũng tới.