Chu Hạc Đình hé miệng.

Một chữ cũng không nói ra được.

Gió xuyên qua dịch đạo, cuốn lá khô trên bàn bay lên.

Hắn bỗng lấy từ trong n.g.ự.c ra một tấm bùa gỗ.

Gỗ đào được gọt rất thô, mép còn dính m.á.u.

Mặt trước để trống, mặt sau khắc bốn chữ “Tội tại Hạc Đình”.

“Ta biết nàng hận bùa bình an.”

Hắn đặt tấm bùa lên bàn, giọng khàn đặc.

“Ta khắc thứ này không phải cầu bình an.”

“Ta chỉ muốn tự nhắc mình.”

Ta dùng khăn lót tay, đẩy tấm bùa trở về.

“Chàng vẫn không hiểu.”

Chu Hạc Đình sững ra.

“Một khúc gỗ thì có gì đáng hận.”

“Sau khi mẫu thân mất, phụ thân đốt sạch đồ bà từng dùng, chỉ giữ lại tấm bùa ấy.”

“Ông ta bắt ta mỗi năm ngày giỗ đều nhìn vào nó, để nhớ một nữ nhân không chịu nhận tội thay phu gia sẽ có kết cục thế nào.”

“Về sau chàng thề với ta rằng Chu gia vĩnh viễn không xuất hiện bùa nữa.”

“Thứ ta tin là chàng, tin chàng nguyện đứng về phía ta.”

Ta điểm vào tấm bùa mới.

“Giờ chàng lại khắc một tấm khác, tưởng đổi vài chữ là có thể chuộc tội.”

“Nói cho cùng, chàng vẫn coi nỗi đau của ta như một đề bài.”

“Tìm đúng đáp án thì có thể đổi ta quay về.”

Tay hắn dừng giữa không trung.

Tấm bùa bị gió thổi rơi, lăn vào vũng bùn bên đường.

Chu Hạc Đình cúi người nhặt, chân bị thương không chống nổi, đầu gối nặng nề đập xuống đất.

Hắn chống hai lần mới đứng dậy được, lòng bàn tay toàn bùn.

Ta không đỡ.

Trước kia hắn chỉ hơi đau đầu, ta cũng sẽ suốt đêm mời đại phu.

Giờ nhìn hắn chật vật, trong lòng ta không có khoái ý trả thù, chỉ thấy cuộc dây dưa này đã kéo quá lâu.

Ta lấy từ trong xe ra một hộp gỗ, đặt lên bàn đá trong trạm đình.

Trong hộp là tất cả thư hắn gửi trước đó.

“Lời xin lỗi của chàng, ta đã nhận.”

“Nhưng ta không chấp nhận.”

“A Hành...”

“Chàng luôn nói sẵn lòng trả lại tất cả cho ta.”

“Mẫu thân, lòng tin và năm năm thanh xuân của ta, chàng trả không nổi.”

“Bạc có thể trả thì chúng ta đã thanh toán xong.”

“Thứ không thể trả, cũng không cần dùng quãng đời còn lại diễn cho ta xem.”

Hắn chống tay lên bàn đá, khớp ngón tay trắng bệch.

“Vậy nàng và Yến Trì thì sao?”

“Không liên quan tới chàng.”

“Hắn cho nàng được gì, ta cũng có thể cho.”

Ta bật cười lạnh: “Đến hôm nay chàng vẫn tưởng ta rời một người đàn ông là để chạy tới một người đàn ông khác sao?”

Xa phu vung roi.

Xe ngựa lướt qua bên cạnh hắn.

Qua khe rèm, hắn ôm hộp gỗ đứng trong trạm đình, bóng người càng lúc càng nhỏ.

Lần này hắn không đuổi theo.

Tối hôm ấy, dịch thừa nói Chu Hạc Đình ngồi một mình tới khi trời tối, ném từng phong thư vào chậu lửa.

Hắn trở về kinh thành, thuê một gian nhà dột ở phía nam thành, sống bằng nghề viết trạng thuê cho người.

Về sau hắn vẫn gửi thư.

Ta không mở một phong nào.

Có lần A Hạnh dọn giấy vụn, không cẩn thận xé mở một góc thư.

Trên giấy không còn viết lời cầu ta quay về, chỉ kể kinh thành có tuyết, căn nhà nhỏ phía nam thành dột rất nặng.

Hắn chép một tờ trạng chỉ đổi được vài đồng tiền, đầu ngón tay nứt vì rét, mực thấm vào vết thương.

A Hạnh hỏi ta có muốn đọc hết không.

Ta gấp thư lại, ném vào giỏ hoàn thư.

Những ngày khổ sở của hắn là cuộc đời của hắn.

Nếu chỉ vì hắn sống thê t.h.ả.m mà ta quay đầu, những tổn thương kia sẽ biến thành một cuộc so xem ai khổ hơn.

Ai quỳ lâu hơn, ai chảy nhiều m.á.u hơn thì người đó được tha thứ.

Trên đời không có cách tính sổ như vậy.

Trước khi vào đông, Thê Ngô Trai nhận được một mối làm ăn lớn.

Thương hội hải vận bỏ bạc, muốn chúng ta in lại hải đồ của bảy huyện ven biển, kèm thêm một quyển đồ lục thảo d.ư.ợ.c thường gặp.

Ta mua luôn hai viện bên cạnh, dựng thêm sáu giá in.

A Hạnh trở thành thợ khắc trẻ nhất hiệu sách.

Khi nàng đưa cho ta tấm ván d.ư.ợ.c thảo đầu tiên tự mình hoàn thành, tay đầy những vết d.a.o nhỏ, mắt lại sáng rực.

Ba mươi bảy tấm ván tàn mẫu thân để lại cũng đã sửa xong.

Tấm cuối cùng chính là “Nữ Giới”.

Ta không vá theo nguyên văn.

Ta lật mặt ván, khắc lại một tấm dư đồ Lâm Triều.

Chữ cũ để ở mặt sau, không đốt, không thờ, cũng không in lại.

Một ngày trước đêm trừ tịch, kinh thành gửi tới phong công văn cuối cùng.

Tội danh của mẫu thân chính thức bị xóa khỏi án cũ, sản nghiệp Thê Ngô Trai từng bị tịch thu được quy đổi thành bạc hoàn trả.

Cùng công văn còn có một chiếc hộp dài không đề tên người gửi.

Trong hộp là một bộ ván khắc Bách Thảo thất lạc nhiều năm.

Ở góc hộp đè một tờ bằng gửi giữ của huyện nha Lâm Triều.

Bộ ván ấy do mấy d.ư.ợ.c phô góp tiền chuộc lại từ tay một nhà sưu tầm phương bắc.

Yến Trì đích thân đi một chuyến, trước dùng bổng lộc của mình ứng tiền áp vận và tu bổ, sau đó lấy danh nghĩa huyện nha gửi tại Thê Ngô Trai để dùng cho đồ lục thảo d.ư.ợ.c về sau.

Ta bảo tiểu nhị chuyển đồ vào kho ván, không đi hỏi.

Hôm sau khi ván khắc được đưa tới, Yến Trì đến hiệu sách lấy huyện chí vừa sửa.

Hắn đứng trước cửa kho ván một lúc, ánh mắt cứ liếc về phía bộ ván Bách Thảo.

A Hạnh cố ý hỏi hắn bộ ván ấy do ai tặng, ngày khác còn khắc một phương tiểu ấn để tạ ơn.

Yến Trì lật huyện chí, thần sắc không đổi: “Đã không đề tên, hẳn người ấy không muốn lưu danh.”

Ta ngẩng đầu khỏi bàn sổ: “Vậy thì ghi là không ai qua tay, phí tu bổ cũng không cần hoàn.”

Tay hắn lật sách khựng lại.

A Hạnh nhịn cười chạy mất.

Yến Trì đi tới trước bàn, đè một tờ khế nợ viết sẵn dưới nghiên mực.

Trên đó nhận khoản phí tu bổ đã ứng, còn chủ động cộng cả tiền giấy mực nợ những năm qua, ký tên ngay ngắn, chỉ riêng ngày hoàn trả để trống.

Ta cầm b.út điền ngày, lại thêm lãi.

Hắn đọc xong, cất khế nợ vào tay áo.

Hôm ấy hắn mang huyện chí đi, để lại nửa túi hạt dẻ mua từ phủ thành.

Không ai nhắc lại bộ ván khắc từ đâu mà có.

Chiều xuống, Lâm Triều có trận tuyết đầu tiên trong năm.

Tuyết bên biển vừa chạm đất đã tan, đường đá xanh ướt sáng.

Sau khi thợ trong hiệu tan hết, ta một mình kiểm tra hải đồ mới in.

Ngoài cửa tựa một chiếc ô trúc xanh.

Cán ô quấn dây bông mới, bên cạnh đặt một gói hạt dẻ còn ấm.

Ở góc phố có một bóng người dừng chốc lát, thấy đèn trong nhà còn sáng mới quay người đi về phía huyện nha.

Ta bóc một hạt dẻ.

Hương ngọt hòa cùng mùi mực, chậm rãi lan trong sân vắng.

Xa xa, tiếng triều vỗ bờ.

Những giá in mới sửa đứng ngay ngắn dưới ánh đèn.

Ngày mai thợ sẽ tới thử bản, sang xuân, lô hải đồ đầu tiên sẽ theo thuyền tới những bến cảng xa hơn.

Ta mở chiếc ô, bước ra sân.

Tuyết mịn rơi trên mặt ô, phát ra tiếng xào xạc.

Còn chiếc ô là ai để lại, sang năm có trả hay không, ta chẳng vội quyết định.

Mực tùng yên trong lò vừa đúng độ, tờ giấy mới đầu tiên cũng đã trải phẳng.

Ta nhấc d.a.o khắc, đặt nét đầu tiên lên tấm ván gỗ trắng.

Ngoài cửa sổ, thủy triều đang vượt qua trường đê, cuộn về nơi xa hơn.

HẾT.