Hiệu sách còn chưa khai trương, bạc đã chảy đi như nước.
Lâm bá gấp đến mức đêm nào cũng gảy bàn tính.
Ta bán hai bộ đầu diện trong hồi môn, lại đưa sa Nguyệt Ảnh Chu Hạc Đình bồi hoàn vào nha hành của thương nhân đường biển để đấu giá.
Có người cười ta lấy đồ của phu nhân thủ phụ lấp hố không đáy.
Sau đầu hạ, mưa lớn ở Lâm Triều phá đê biển, huyện nha cần gấp cáo thị.
Kho giấy trong toàn huyện đều bị ngâm nước, giấy thanh đàn của Thê Ngô Trai phơi trên giàn cao nên may mắn giữ được quá nửa.
Thợ trong phường thắp đèn suốt đêm, in từng tờ bản đồ sơ tán.
Trước khi nước lũ tràn vào thôn Đông, dân làng theo bản đồ rút lên cao.
Nhà cuối cùng vừa rời đi, bức tường đất sau nhà liền đổ sập.
Sáng hôm sau, Kiều sư phụ chột mắt chẻ đôi tấm thẻ gỗ cũ khắc chữ “thợ làm giả”, ném vào lò nấu bột.
Khi lửa bùng lên, trong sân không một ai nói chuyện.
Trịnh lão chưởng quầy lau mặt, xoay người treo ngay ngắn tấm biển mới “Thê Ngô Trai”.
Ta không vội trở lại kinh thành cáo trạng.
Năm xưa phụ thân chỉ là quan áp vận, phía sau còn có ai, trên sổ không ghi tên, chỉ có ám ký của các thương hiệu.
Đưa chứng cứ đi quá sớm, chúng chỉ biến mất thêm một lần nữa.
Ta ở lại sửa hiệu sách.
Ngày Thê Ngô Trai treo biển lại, trước cửa không có khách chúc mừng, chỉ có hơn hai mươi người thợ đến nhận tiền công.
Có người nhận ra ta là thê t.ử bị thủ phụ ruồng bỏ, lén bàn tán sau lưng.
Ta đặt tiền công lên bàn.
“Biết khắc ván, mỗi tháng sáu quan.”
“Biết làm giấy, tám quan.”
“Có thể tu bổ sách cũ, mười quan.”
“Ai còn dò hỏi chuyện hậu viện của Chu thủ phụ thay ta, hôm nay ta kết đủ tiền công cho người đó, ngày mai không cần tới nữa.”
Trong sân lập tức im bặt.
Khi gió biển bắt đầu mang hơi nóng, “Hải Phòng Đồ Chí” mới sửa cuối cùng cũng được in xong.
Yến Trì dẫn người tu đê, cần vẽ thủy triều, đá ngầm và cảng tránh gió cho ngư dân.
Ta khắc lại những tấm ván cũ của mẫu thân, lại mời các lão ngư sửa từng chỗ.
Không lâu sau khi lô sách đầu tiên đưa tới bến, nó đã giúp hai chiếc thuyền lạc vào bãi đá ngầm tìm được đường về cảng.
Việc làm ăn của hiệu sách dần khá lên.
Ta còn thu mua những gia phả, y thư bị nước biển ngâm hỏng, tháo trang, tẩy mốc, vá giấy.
Hai tay ngày ngày dính bột, đầu ngón dày thêm một lớp chai, nhưng ban đêm lại ngủ rất sâu.
Làm ăn khá lên, cũng có kẻ đỏ mắt.
Chưởng quầy của Vạn Quyển Lâu, hiệu sách lớn nhất phủ thành, tới bàn chuyện thu mua, vừa mở miệng đã đòi bảy phần cổ phần mà không chịu bỏ vốn, còn ám chỉ một nữ t.ử hòa ly không giữ nổi bí phương.
Ta mời ông ta uống nửa chén trà, xoay người sai người đổ cả mười xe giấy vụn ngoài cửa lên đường vận hàng của Vạn Quyển Lâu.
Đống giấy vụn ấy do chính họ bán rẻ cho chúng ta, bên trong lẫn hơn ba trăm tờ tàn bản ăn cắp hải đồ của Thê Ngô Trai.
Thương hộ vây xem càng lúc càng đông.
Ta lấy bằng khế mẫu in vừa được thương hội Lâm Triều lập, chỉ vào dấu Vạn Quyển Lâu trên đống tàn giấy.
“Trộm bản của ta, còn muốn mua luôn hiệu của ta.”
“Bồi bạc, công khai ký tên nhận lỗi trên bản tin mười ngày của thương hội.”
“Nếu không chịu, chúng ta tới phủ nha nói cho rõ xem bức bản đồ lậu bỏ sót bãi đá ngầm suýt hại bao nhiêu người lái thuyền.”
Sắc mặt chưởng quầy trắng bệch tại chỗ.
Đông gia phía sau Vạn Quyển Lâu có thân thích với nhà huân quý trong kinh, vốn chắc chắn ở một huyện nhỏ chẳng ai dám tra.
Yến Trì lại dẫn nha dịch tới thật.
Hắn không nhận danh thiếp chưởng quầy đưa, chỉ sai người niêm phong xe, dập mẫu, mời người chèo thuyền tới nhận bản đồ.
Chứng cứ đóng đinh, Vạn Quyển Lâu trong đêm phải mang bạc bồi thường tới, trang đầu của số bản tin mười ngày của thương hội kế tiếp chính là thư nhận lỗi của họ.
Ta dùng khoản bạc ấy xây một kho ván in chống cháy.
Ngày lợp xong mái, Yến Trì tới ăn cơm thợ.
Hắn ngồi chung ghế dài với đám thợ, trong bát chỉ có cá hầm củ cải.
A Hạnh không nhận ra huyện lệnh, chê hắn chắn đường, nhét cho hắn một bó gỗ bắt khiêng.
Hắn thật sự khiêng suốt nửa canh giờ.
Khi ta từ phòng sổ sách đi ra, tay áo hắn dính đầy bụi gỗ.
“Tay Yến đại nhân dùng để xử án, khiêng gỗ cũng nhanh nhẹn lắm.”
“Thẩm chưởng quầy thuê người có bao cơm không?”
Ta đẩy bát cá của mình qua: “Chỉ bao bữa này.”
Hắn cúi đầu ăn, không nhắc tới Vạn Quyển Lâu, cũng không nói việc phong tiệm đã đắc tội ai.
Về sau ta mới nghe nói phủ thành liên tiếp gửi công văn, gọi hắn về vấn trách.
Hắn thức đến sáng ở công đường, chép rõ từng trang lời khai của vụ trộm bản, cứng rắn ép thượng quan xử theo luật.
Ta bảo A Hạnh đưa sang một bình t.h.u.ố.c trị thương.
A Hạnh trở về, cười đầy ẩn ý: “Huyện lệnh đại nhân hỏi tiền t.h.u.ố.c ghi vào sổ ai.”
“Ghi vào khoản tiền thuê hắn còn nợ Thê Ngô Trai.”
Từ đó về sau, món nợ huyện nha thiếu ta ngày càng dài.
Phong thư đầu tiên của Chu Hạc Đình cũng được đưa đến vào lúc ấy.
Trong thư không có lời xin lỗi.
Hắn nói triều chính bận rộn, không có thời gian chiều ta gây chuyện.
Chỉ cần ta lập tức về kinh, hắn có thể không truy cứu chuyện ta dọn sạch kho phủ, cũng cho phép ta dựng một ngôi từ đường cho mẫu thân ngoài thành.
Ta đọc xong, đưa thư cho A Hạnh, tiểu đồ đệ phụ trách bồi sách.
“Hồ quá loãng, kê dưới chân bàn hút nước đi.”