Tôi ngẩng đầu hỏi: “Vậy còn chuyện con đến học đường thì sao?”
“Mời tiên sinh tới phủ.”
“Không muốn! Con muốn được chơi với những đứa trẻ khác!”
“Trẻ con trong kinh thành chẳng có mấy đứa tốt đẹp.”
Lục Đình Chu đứng bên cạnh chậm rãi chen vào một câu: “Có lẽ khi còn nhỏ, Vương gia đặc biệt chẳng phải thứ tốt lành gì.”
Chiếc xe lăn của Văn Chiếu Dạ lập tức đổi hướng về phía hắn.
Lục Đình Chu vẫn đứng nguyên tại chỗ mà cười.
Còn cha tôi thì vì bị chọc tức, tối hôm ấy lại ăn thêm được nửa bát cơm.
Văn Chiếu Dạ bị mù chính là vì một lần gặp thích khách.
Trong sách chỉ dùng hai câu ngắn ngủi để nói qua chuyện này: Nhiếp chính vương chuyên quyền ngang ngược, gây thù quá nhiều, cuối cùng gặp phải báo ứng.
Nhưng sau khi thật sự bước vào vương phủ sống một thời gian, tôi mới biết mọi chuyện vốn chẳng hề đơn giản đến vậy.
Ông trúng độc khi đang thay tiên đế áp tải quân lương nơi biên quan.
Số quân lương ấy vốn phải được đưa đến Bắc Cảnh, nhưng giữa đường lại bị người khác âm thầm đ.á.n.h tráo.
Văn Chiếu Dạ lần theo từng manh mối trở về tận kinh thành, vừa mới lấy được chứng cứ trong tay thì đã bị thích khách làm tổn thương đôi mắt.
Ông giữ được tính mạng, nhưng toàn bộ chứng cứ lại bị một trận hỏa hoạn thiêu sạch không còn dấu vết.
Khi ấy tiên đế bệnh nặng, triều đình rối ren chẳng khác nào một nồi cháo.
Văn Chiếu Dạ không còn cách nào khác, chỉ có thể tiếp tục ngồi trên vị trí ấy, mang tiếng xấu trên lưng để trấn áp thế lực của các phe.
Đến khi ấu đế cuối cùng cũng ngồi vững trên ngai vàng, đôi mắt của ông đã chẳng còn cách nào chữa khỏi.
Ông không chịu để bất kỳ người nào dìu đỡ, cũng tuyệt đối không cho phép người khác thay đổi vị trí đồ đạc trong phủ.
Ngưỡng cửa cao bao nhiêu, góc bàn nằm ở nơi nào, dưới hành lang có mấy bậc thềm, tất cả những thứ ấy ông đều dựa vào bước chân cùng trí nhớ mà ghi lại từng chút một.
Nhưng đêm hôm ấy, tôi lại nghe thấy tiếng đồ sứ vỡ vang ra từ thư phòng.
Tôi ôm chăn lén chạy tới, phát hiện cửa phòng vẫn còn khép hờ.
Văn Chiếu Dạ đang ngồi dưới đất, một tay chống vào án thư, tay còn lại đè lên mảnh sứ vỡ, m.á.u đỏ từ lòng bàn tay chậm rãi rịn ra.
Ông vừa rồi đã sờ nhầm phương hướng, vì vậy vô tình làm đổ chén trà.
Trong phòng không thắp đèn, bóng tối yên tĩnh đến mức khiến người ta thấy lạnh lòng.
Có lẽ ông đã quên rằng lúc này tôi vẫn chưa ngủ.
“Vô dụng.”
Ông thấp giọng mắng một tiếng, cũng chẳng biết rốt cuộc đang mắng ai.
Tôi đứng ngoài cửa, cổ họng bỗng nhiên nghẹn lại.
Tôi lập tức xoay người chạy về phòng, lấy hết số tiền mình đã dành dụm để mua kẹo hồ lô, sau đó lại chạy xuống nhà bếp ôm ra một bao bột mì trắng.
Sáng ngày hôm sau, trước cổng vương phủ bỗng xuất hiện một tấm bảng lớn.
Trên đó dùng chu sa viết một hàng chữ xiêu vẹo: “Trọng thưởng cầu danh y trong thiên hạ, ai có thể chữa khỏi mắt cho cha ta, ta sẽ dập đầu một trăm cái, còn tặng thêm mười cân thịt chiên giòn.”
Khi Văn Chiếu Dạ lần tay sờ thấy tấm bảng ấy, cả người ông bỗng lặng đi.
Lão quản gia đứng bên cạnh nhỏ giọng giải thích: “Là tiểu quận chúa tự mình viết.”
“Nàng nói thịt chiên giòn còn thiết thực hơn bạc.”
Tôi giơ nắm tay nhỏ lên, nghiêm túc nói: “Cha, cha đừng sợ.”
“Đại phu trong kinh thành không chữa được thì chúng ta đi nơi khác tìm.”
“Trên đời rộng lớn như vậy, nhất định sẽ có người nghĩ ra cách.”
Văn Chiếu Dạ đưa tay, chậm rãi sờ qua từng nét chữ thô vụng trên tấm bảng.
“Chữ xấu thế này, ai đọc nổi?”
Tôi lập tức không phục: “Con mới sáu tuổi thôi!”
“Sáu tuổi mà viết thành thế này thì vẫn rất xấu.”
“Vậy cha dạy con đi!”
Ông lập tức bị tôi chặn họng, hồi lâu chẳng nói được gì.
Tối hôm ấy, Văn Chiếu Dạ quả nhiên gọi tôi đến thư phòng, còn sai người chuẩn bị đầy đủ giấy b.út.
Tôi cứ tưởng ông thật sự định dạy mình viết chữ nên vui vẻ ngồi ngay ngắn xuống.
Nào ngờ ông lại bình thản nói: “Xóa hai chữ ‘trọng thưởng’ đi.”
“Tại sao?”
“Bổn vương không có nhiều bạc đến vậy.”
“Cha chẳng phải Nhiếp chính vương sao?”
“Nhiếp chính vương cũng phải nuôi cả một đám miệng ăn.”
Tôi suy nghĩ hồi lâu, cuối cùng đổi thành mấy chữ “thịt chiên giòn ăn thỏa thích”.
Văn Chiếu Dạ im lặng thật lâu, vậy mà cuối cùng lại chẳng hề phản đối.
Đến ngày thứ bảy sau khi cáo thị được dán ra, có một bà lão đeo hòm t.h.u.ố.c tìm đến tận cửa.
Bà tự xưng là bà Chúc, mái tóc đã hoa râm nhưng đôi mắt vẫn sắc bén như chim ưng, vừa bước qua cửa đã lập tức hỏi: “Ai viết câu thịt chiên giòn ăn thỏa thích?”
Tôi lập tức giơ tay lên: “Con.”
Bà vỗ nhẹ lên hòm t.h.u.ố.c: “Tiểu oa nhi có giữ lời không?”
“Giữ!”
“Được, vậy để ta xem mắt cho cha ngươi.”
Ban đầu Văn Chiếu Dạ hoàn toàn không tin bà.
Khi bà Chúc bắt mạch cho ông, sắc mặt ông lạnh đến mức tưởng chừng có thể khiến cả hòm t.h.u.ố.c đóng thành băng, mãi đến khi bà lão lấy một cây ngân châm đ.â.m nhẹ vào sau tai ông.
Ông khẽ rên một tiếng.
Bà Chúc vê cây kim trong tay, bình thản nói: “Độc trong người chưa được giải hết, dư độc vẫn đang đè lên kinh mạch.”
“Mắt chưa chắc có thể hoàn toàn hồi phục, nhưng nếu chỉ muốn nhìn thấy ánh sáng cùng phân biệt bóng người thì vẫn có thể thử.”
Tôi nghe xong vui đến mức suýt nhào tới ôm ngã cả bà.
Văn Chiếu Dạ lại lạnh nhạt hỏi: “Ai phái bà tới?”
Bà Chúc lập tức trợn mắt nhìn ông: “Lão nương chỉ tình cờ đi ngang qua, ngửi thấy mùi thịt chiên giòn nhà ngươi thơm nên mới tới.”
Ngay lúc ấy, ngoài cửa bỗng truyền đến một tiếng ho khẽ của Lục Đình Chu.
Tôi lập tức quay đầu nhìn sang hắn.
Hắn sờ sờ mũi rồi cười nói: “Ta chỉ tình cờ quen biết bà Chúc mà thôi.”
Sắc mặt Văn Chiếu Dạ lập tức lạnh xuống.
“Cút.”
Lục Đình Chu vẫn giữ nguyên vẻ mặt dễ chịu, cười nói: “Bệnh nhân tính khí quá lớn, chữa trị cũng sẽ càng tốn t.h.u.ố.c.”
Bà Chúc giơ tay vỗ bốp một cái vào sau đầu hắn: “Bớt lắm lời.”
“Ngươi cõng ta từ trong núi về tận kinh thành, chẳng lẽ eo không đau sao?”