Hôm Tô Tri Vi, trưởng tỷ của ta, khoác áo cưới bước lên kiệu hoa, dân chúng khắp nửa kinh thành gần như đều đổ ra đường để nhìn một lần cho thỏa lòng hiếu kỳ.
Bọn họ không chen nhau đến ấy vì của hồi môn Tô gia chất cao như núi, mà vì bản thân nàng từ lâu đã là một giai thoại không ai trong kinh thành không biết.
Lúc tám tuổi, nàng ngồi trong tộc học, thuận miệng đọc một câu “đời người nếu chỉ như lần đầu gặp gỡ”, làm lão tiên sinh đang cầm thước cũng kinh ngạc đến mức buông rơi cả vật trong tay.
Năm mười hai tuổi, nàng bắt phòng thu chi trong phủ đổi cách ghi sổ bằng một kiểu chữ số kỳ lạ, còn chê lối ghi ngang dọc chấm phẩy rườm rà quá chậm, sổ sách tốt nhất phải nhìn qua đã hiểu, đỡ phí tâm sức người đọc.
Đến năm mười lăm tuổi, trong buổi yến ngắm hoa, nàng đứng giữa đám phu nhân quý nữ mà nói nữ t.ử cũng cần đọc sách, cần hiểu lẽ đời, không thể cả đời chỉ quanh quẩn cùng kim chỉ và bốn bức tường hậu viện.
Năm mười bảy tuổi, nàng khước từ hôn sự với đích t.ử nhà thủ phụ, chỉ để lại một lý do khiến cả kinh thành xôn xao: “Ta không muốn nhắm mắt bước vào một cuộc hôn nhân mù mịt, điều ta cầu là một đời một kiếp chỉ có một đôi người.”
Người trong kinh đều nói nàng hồ đồ đến điên rồi.
Chỉ riêng ta hiểu, nàng chưa từng điên.
Bởi nàng và ta giống nhau, đều là người từ ngàn năm sau lạc đến chốn này.
Chỉ tiếc rằng nàng không hề hay biết, ta cũng mang cùng một bí mật như nàng.
Ba năm trước, khi ta tỉnh lại trong thân phận thứ nữ Tô gia, trở thành Tô Vãn Đường, chỉ cần gặp Tô Tri Vi lần đầu, ta đã biết nàng tuyệt đối không phải nữ t.ử tầm thường của thời đại này.
Làm gì có quý nữ khuê các nào quay sang nói với nha hoàn rằng người đi làm công vốn không nên làm khó người cùng cảnh đi làm công.
Làm gì có tiểu thư thế gia nào buộc nữ công trong phòng thêu phải tính tiền công theo từng món đồ, rõ ràng từng đường kim mũi chỉ.
Lại càng làm gì có cô nương nhà quyền quý nào say rượu rồi ôm cột khóc lóc, nói kiếp trước thi nghiên cứu sinh không đỗ, kiếp này nhất định không tự ép mình sống khổ.
Ta nhận ra nàng.
Nhưng ta không nhận nàng.
Lý do cũng chẳng quanh co gì.
Thế đạo này sẽ không vì trong lòng chúng ta có thêm một ngàn năm kiến thức mà nhẹ tay với chúng ta hơn nửa tấc.
Một người nữa biết bí mật, nghĩa là thêm một lối rẽ không thể lường.
Ta chưa tìm được thời cơ thích hợp để nói cùng nàng.
Trước ngày xuất giá, trưởng tỷ nắm lấy tay ta, đôi mắt nàng sáng rực như đã thay ta vạch sẵn cả một con đường.
“Vãn Đường, ta đã chọn giúp muội rồi.”
Ta đang nâng chén trà, nghe câu ấy, trong lòng chợt trĩu xuống một nhịp.
“Chọn gì cơ?”
“Chọn phu quân.”
Nàng đẩy tờ canh thiếp đến trước mặt ta.
Trên đó viết ba chữ: Chu Cảnh Hành.
Hắn là Thám hoa tân khoa, xuất thân hàn môn, cha mẹ đều đã qua đời, trong nhà không thiếp, không thông phòng, dung mạo thanh nhã, tính tình cầu tiến.
Hắn mới vào Hàn Lâm viện chưa lâu, lại được Thái y viện mượn qua phụ việc tu sửa y thư.
Trong mắt trưởng tỷ, một nam nhân như thế đã là dòng nước lành hiếm thấy giữa chợ hôn nhân đầy bùn lầy của cổ đại.
Nàng vỗ nhẹ tay ta, ân cần nói: “Ta sai người xem xét cả rồi, bên cạnh hắn sạch sẽ, không mê kỹ viện, cũng chẳng giấu một đám oanh oanh yến yến trong nhà.
“Mẹ hắn góa chồng cũng mất sớm, muội gả sang đó sẽ không có trưởng bối ngày ngày bắt muội cúi đầu lập quy củ.
“Ít nhất, muội không phải vừa vào cửa đã đấu với một sân thiếp thất.”
Ta biết nàng thật lòng muốn che chở cho ta.
Nhưng ta vẫn hỏi: “A tỷ đã để ý hắn bao lâu?”
“Từ khi hắn đỗ Thám hoa, ta đã sai người quan sát, tính ra vừa tròn nửa năm.”
Ta lặng đi một chút, rồi khẽ nói: “Những gì a tỷ thấy, đều là chuyện trước khi hắn thành thân.
“Trước hôn sự không vấy bụi, chưa chắc sau hôn sự vẫn còn giữ được sạch trong.”
Trưởng tỷ thoáng ngẩn người, rồi lại mỉm cười trấn an: “Vậy nên ta mới không để muội một mình. Ta đã dặn Lý ma ma theo của hồi môn sang đó, mỗi tháng âm thầm hỏi han một lần. Chỉ cần có chút động tĩnh khác thường, bà ấy sẽ báo cho ta ngay.”
Nàng siết tay ta, giọng dịu mà cứng cỏi: “Muội cứ yên tâm. Nếu hắn dám phụ muội, người đầu tiên đ.á.n.h gãy chân hắn nhất định là ta.”
Ta không đáp thêm.
Một thứ nữ Tô gia như ta, hôn sự vốn không nằm trong tay mình.
Trong mắt người ngoài, có thể gả cho một Thám hoa lang không cha mẹ ép buộc, không thiếp thất quấy nhiễu, đã là phúc khí khó cầu.
Đêm tân hôn, Chu Cảnh Hành nhẹ tay vén khăn voan của ta.
Mày mắt hắn hiền hòa như ngọc được mài nhẵn, nhưng đầu ngón tay lại khẽ run.
“Vãn Đường, đời này ta chỉ có nàng.”
Nếu ta thật sự là cô nương sinh ra nơi đây, có lẽ trái tim đã mềm xuống vì câu ấy.
Ta chỉ cong môi cười.
“Được.”
Nửa năm sau ngày thành hôn, trong kinh ai cũng khen Chu Thám hoa đối đãi với phu nhân hết mực chu toàn.
Hắn không nạp thiếp, không thu thông phòng, mỗi ngày hết việc đều về phủ dùng cơm cùng ta.
Ta nhiễm bệnh, hắn đích thân canh bếp sắc t.h.u.ố.c.
Ta ghi y án, hắn ngồi bên mài mực.
Có khi hắn nhìn những hàng chữ của ta, còn ôn tồn khen: “Phu nhân tâm tư tinh vi, nếu sinh làm nam t.ử, ắt có thể vào Thái y viện.”