Khi ấy hôn ban đã qua nửa năm.
Để trả nợ, Liễu Tê Nguyệt bán giảm giá hàng tồn trong tú trang, lại tiếp quản mấy cửa hiệu của Vệ gia để kinh doanh.
Nàng ta quả thật có bản lĩnh, nếu chịu làm ăn đàng hoàng thì chưa chắc không thể làm lại từ đầu. Nhưng nàng ta nóng lòng khôi phục danh tiếng, vẫn khắp nơi tặng y phục, quyên bạc, cuối cùng ngược lại còn mang thêm nhiều khoản nợ bên ngoài.
Vệ gia giục nàng ta chuẩn bị hồi môn, nàng ta lại yêu cầu Vệ gia trả trước sáu nghìn lượng nợ ta. Hai bên giằng co không dứt, cùng dâng biểu vào cung xin Thái hậu thu hồi chiếu hôn.
Thái hậu chuẩn tấu, nhưng hạ chỉ trách mắng hai nhà thay đổi thất thường, không giữ chữ tín. Vệ gia bán con ngựa Chiếu Dạ Bạch để thay Vệ Tri Hành trả hết hai nghìn lượng, rồi đưa hắn đến Bắc cảnh, bắt đầu từ một giáo úy cấp thấp. Liễu Tê Nguyệt mất lòng tin của các quý phụ trong kinh, Tê Hà Tú Trang cũng vì sổ sách hỗn loạn mà đóng cửa.
Không ai vì họ không chọn ta mà trừng phạt họ. Vệ Tri Hành mất chức là vì Vệ gia nhiều lần cầu xin chiếu chỉ, lại trị quân không nghiêm; Liễu Tê Nguyệt mất tú trang là vì nàng ta lấy tiền vay mượn để mua danh tiếng. Họ đã quen để người khác gánh hậu quả, lần này không còn ai đứng ra thu dọn tàn cuộc cho họ nữa.
Vệ Tri Hành chặn ta ngoài trường thi.
Hắn gầy đi rất nhiều.
Không mang hạt dẻ, hắn chỉ ôm một chiếc hộp gỗ cũ. Bên trong là những món quà sinh thần ta tặng hắn suốt những năm qua: hộ oản, thẻ sách, kiếm phổ, còn có một lá bùa bình an thêu méo mó.
“A Hành, ta vẫn giữ tất cả.”
“Đó là đồ của huynh, không cần trả ta.”
“Ta giữ những thứ này là muốn nói cho nàng biết, cuối cùng ta cũng hiểu ai mới thật lòng đối tốt với ta.”
Ta thấy thật nực cười: “Huynh gặp chuyện không thuận lợi mới phát hiện trước kia có người luôn đứng ra gánh giúp huynh. Đó không gọi là biết ai thật lòng, chỉ gọi là nhớ sự tiện lợi.”
Hắn nóng nảy tiến lên một bước, rồi dừng lại dưới ánh mắt lạnh đi của ta.
“Ta đã từ chối Tê Nguyệt. Chỉ cần nàng bằng lòng, ta có thể xin bệ hạ trị tội, có thể từ quan, có thể ở rể Bùi gia. Ta chẳng cần gì cả, chỉ cần nàng trở về.”
“Nhưng ta không cần huynh.”
Ta đáp rất dứt khoát, không để hắn có bất kỳ cơ hội hiểu lầm nào.
Mắt Vệ Tri Hành đỏ lên: “Mười năm, nàng thật sự không lưu luyến chút nào sao?”
“Từng lưu luyến, nên ta đã cho huynh rất nhiều cơ hội. Nay không còn lưu luyến, cũng bởi trong mười năm ấy, huynh đã tự tay dùng hết mọi cơ hội.”
Hắn đột nhiên nhắc đến Lục Ký Minh, hỏi có phải ta đã sớm thay lòng.
Ta lắc đầu.
“Cho dù trên đời không có Lục Ký Minh, ta cũng sẽ không quay đầu. Vệ Tri Hành, lúc rời khỏi huynh, điều duy nhất ta muốn là lấy lại cuộc đời của mình, chẳng liên quan gì đến một nam nhân khác.”
Tiếng trống mở cửa trường thi vang lên.
Ta đi ngang qua hắn, không ngoảnh đầu.
Ngày hôm ấy thi luật học, đề đầu tiên ta nhận được là: quả phụ không con, nhà chồng muốn chiếm ruộng của nàng, phải xử thế nào?
Ta đặt b.út xuống gần như không ngừng. Từ luật lệ hiện hành viết đến lệ cũ địa phương, lại viết những vụ án thực tế từng gặp trên đường. Quả phụ có khung dệt bị nhà chồng khiêng đi, từng ôm chiếc suốt trống ngồi trước thềm suốt một đêm. Tên của bà không thể xuất hiện trong bài thi, nhưng chuyện bà từng chịu đựng có thể.
Phần toán học thi về hao hụt kho lương. Ta gảy bàn tính hai lượt, tìm ra khoản báo hỏng trùng lặp trong sổ.
Phần sách luận hỏi nữ t.ử làm quan có trái tổ chế hay không.
Ta đặt b.út viết: Tổ chế bảo hộ giang sơn dân sinh, không phải đặc quyền của số ít người. Nữ t.ử có thể cày ruộng, dệt vải, nộp thuế, thủ tiết phụng dưỡng song thân, đã gánh trách nhiệm với thiên hạ, thì không nên bị ngăn ngoài cửa báo quốc.
Khi nét b.út cuối cùng hạ xuống, ta nhớ đến bát lựu năm bảy tuổi.
Trước kia ta chỉ muốn lấy lại phần thuộc về mình.
Bây giờ điều ta muốn làm là khiến những cô nương ngồi bên bàn sau này không cần trước tiên chứng minh mình đáng thương hơn ai, hiểu chuyện hơn ai, mới xứng đáng có được một quả lựu.
11.
Ngày yết bảng, ta đứng đầu kỳ tuyển nữ lại.
Trưởng tỷ đứng thứ ba.
Tỷ vốn không cần dự thi. Với quan hệ và danh vọng của mình, bệ hạ đã sớm có ý phong tỷ làm nữ học bác sĩ. Nhưng tỷ nói, nếu những nữ t.ử đầu tiên bước vào quan trường đều dựa vào ân điển, về sau người ta sẽ chỉ vào lưng họ mà nói rằng chức quan của nữ t.ử là khóc mà có được.
Tỷ thi như tất cả thí sinh khác, kiểm tra thân phận, vào trường thi, làm bài, mãi đến khi chuông niêm phong vang lên mới bước ra khỏi trường thi.
Dưới bảng có người nghi ngờ tỷ xuất thân Quốc công phủ, lại từng là Vương phi, thứ hạng nhất định có người chiếu cố. Trưởng tỷ ngay tại chỗ xin công khai bài thi đã niêm danh, mời quan viên Tam tỉnh phúc khảo.
Kết quả phúc khảo cho thấy sách luận của tỷ được đ.á.n.h giá rất cao, chỉ vì một bài toán thiếu mất một bước nên mới đứng thứ ba.
Người nghi ngờ không còn lời nào để nói.
Bệ hạ phong ta làm Ty Chức Thự lệnh, chuyên quản phường dệt quanh kinh, khế ước nữ công và tranh chấp tài sản của nữ t.ử; trưởng tỷ giữ chức nữ học bác sĩ, phụ trách soạn quy chế nữ học các châu.
Quan ấn của Ty Chức Thự không lớn, nhưng đóng lên khế thư lại có thể định việc. Chúng ta không cần vào hậu cung tô điểm thái bình, có thể xuống làng kiểm tra xưởng dệt, cũng có thể triệu chưởng quầy không giao sổ đến hỏi chuyện.
Nhậm chức chưa được mấy ngày, ta nhận được một khế nợ quen thuộc. Người mắc nợ là Liễu Tê Nguyệt.
Ta và nàng ta có quan hệ thân thích, theo lệ viết rõ tránh xét ở đầu hồ sơ, xin phó quan thẩm lý. Liễu Tê Nguyệt bán bình phong Bách Điểu và số trang sức còn lại, trả được ba nghìn tám trăm lượng, còn hai nghìn hai trăm lượng nhất thời không thể trả đủ.
Nàng ta đứng dưới công đường, không còn nhắc thân thế, cũng không cầu ta nể tình tỷ muội mà khoan hạn.
Nàng ta xin đến vùng phía bắc kinh doanh xưởng dệt do quan phủ quản lý, lấy bổng lộc và tiền lời để trả nợ. Nơi ấy giá rét khắc nghiệt, các quý nữ trong kinh không ai muốn đi, nhưng cũng thiếu nhất người hiểu nghề thêu, biết kinh doanh.