Mãng bào của Tiêu Hành đã đổi thành áo vải màu nhạt.
Hắn cúi đầu, hai tay bị xích sắt khóa c.h.ặ.t.
Nghĩa phụ đứng ở hàng đầu quan văn, quan phục đỏ tím chỉnh tề không một nếp nhăn, nhưng không che nổi vẻ hoảng sợ nơi đáy mắt.
Ông ta cho rằng ta sẽ dẫn binh vây thành.
Nhưng ông ta chờ suốt mấy tháng, thứ chờ được không phải thiên quân vạn mã.
Mà là ta mang theo chiến báo đại thắng Bắc Địch, một mình bước vào đại điện.
“Thẩm Tri Vi.”
Giọng hoàng đế khô khốc.
Bàn tay đặt trên tay vịn long ỷ siết đến trắng bệch:
“Ngươi muốn gì?”
Ta đứng giữa điện, lưng thẳng tắp.
Không quỳ, không bái, thậm chí không khom lưng.
“Bệ hạ, thần nữ không cần phong thưởng, không cần tước vị, cũng không cần binh quyền.”
“Thần nữ chỉ cần ba câu.”
Yết hầu hoàng đế chuyển động:
“Nói.”
“Câu thứ nhất.”
“Thẩm Liệt không hề mưu phản.”
“Mười năm trước, người vì từ chối cắt nhượng Bắc Cảnh, từ chối để Bắc Địch vào quan, nên bị gian nhân thiết kế sát hại tại Nhạn Môn quan.”
“Bia văn Thái Miếu, xin bệ hạ tự tay sửa lại.”
Hoàng đế trầm mặc rất lâu, chậm rãi gật đầu:
“Chuẩn.”
“Câu thứ hai.”
“Ba mươi vạn quân dân Bắc Cảnh không phụng hổ phù, không phụng binh phù, chỉ phụng một lá cờ.”
“Kẻ nào động tới lá cờ ấy, chính là động tới cốt của Bắc Cảnh.”
Thái t.ử cúi đầu.
Bờ vai nghĩa phụ khẽ run.
“Câu thứ ba.”
Ta dừng lại, giọng nói trầm xuống:
“Từ nay về sau, triều đình vĩnh viễn không lập phủ ở Bắc Cảnh, không trưng binh dịch, không thu cống nạp.”
“Sổ sách trên thảo nguyên, người thảo nguyên tự tính.”
Đại điện c.h.ế.t lặng.
Hoàng đế đột ngột siết c.h.ặ.t t.a.y vịn long ỷ, các đốt ngón tay trắng bệch.
Điều kiện này còn tàn nhẫn hơn hai điều trước.
Đây không phải xin đặc quyền.
Mà là muốn tự trị.
Nghĩa phụ quỳ dưới đất, toàn thân run rẩy.
Thái t.ử đột ngột ngẩng đầu, quạt xếp “phạch” một tiếng khép lại.
“Thẩm Tri Vi.”
Giọng hoàng đế khô khốc:
“Ngươi có biết mình đang nói gì không?”
“Biết.”
Ta mỉm cười, lấy mật thư nghĩa phụ đ.á.n.h rơi cùng bức lụa thư của cha trong n.g.ự.c ra, đặt mạnh trước bậc ngọc:
“Bệ hạ, thần nữ vừa chôn năm vạn quân Bắc Địch tại Ưng Chủy Hiệp.”
“Năm vạn người ấy vốn là phiền phức của triều đình.”
“Cũng là lễ gặp mặt mà Tiêu Hành cùng nghĩa phụ định dâng cho Bắc Địch.”
“Tiêu Hành cấu kết Bắc Địch, định mượn đường cánh đồng tuyết tập kích kinh thành.”
“Nghĩa phụ nuôi tư binh, giam cựu bộ Thẩm gia làm khổ dịch suốt mười năm, biết chuyện không báo, còn quay lại c.ắ.n người.”
“Từ nay về sau, phiền phức của Bắc Cảnh, thần nữ tự mình ngăn cản.”
“Cốt của Bắc Cảnh, thần nữ tự mình nuôi lớn.”
“Triều đình chỉ cần làm một việc.”
Ta xoay người, chỉ về phía ngoài điện:
“Đừng bước qua Nhạn Môn quan.”
Hoàng đế nhìn ta, lại nhìn ra ngoài điện.
Ông ta hiểu, hôm nay nếu không đồng ý, đại điện này sẽ không thể yên ổn.
Hồi lâu sau, ông ta nghiến từng chữ qua kẽ răng:
“Chuẩn.”
“Trẫm chuẩn cho ngươi tự trị.”
“Nhưng ngươi phải bảo vệ Nhạn Môn quan.”
Ta gật đầu, xoay người rời đi.
11
Sau khi bãi triều, bên ngoài thiên lao.
Tiêu Hành bị áp giải lên xe tù.
Mãng bào màu nhạt dính đầy bùn tuyết.
Hắn bỗng ngẩng đầu gọi ta lại:
“Thẩm Tri Vi.”
Ta dừng bước.
Hắn lấy từ trong n.g.ự.c ra nửa miếng hổ phù, đưa qua song sắt xe tù.
Ở mép hổ phù có một vết khắc quen thuộc, khớp kín kẽ với nửa miếng cha để lại cho ta.
“Cha nàng năm xưa đã chia binh phù thành hai nửa.”
Giọng hắn khàn đặc:
“Nàng cho rằng ông ta yêu thương nàng đến mức nào sao?”
“Ông ta chẳng qua chỉ đặt cược cả hai phía.”
“Một nửa cho nàng, một nửa… cho ta.”
Ta nhận nửa miếng hổ phù, đầu ngón tay vuốt qua vết khắc rồi bật cười.
“Tiêu Hành.”
Ta ngẩng đầu nhìn hắn:
“Trước khi cha ta tắt thở, trong tay vẫn siết nửa miếng hổ phù, đến c.h.ế.t cũng chưa trao ra được.”
“Khi nghĩa phụ đẩy cửa bước vào, người mới đoạn khí.”
“Miếng trong tay ngươi không phải do cha ta trao.”
“Là nghĩa phụ moi ra từ tay người c.h.ế.t rồi ban thưởng cho ngươi, đúng không?”
Sắc mặt Tiêu Hành đột ngột thay đổi.
“Cha ta không đặt cược hai phía.”
“Người đã giao một nửa hổ phù cho Truy Phong Môn cất giữ, chỉ chờ ta tự mình tìm đến.”
“Còn nửa kia, người chưa kịp trao đã bị nghĩa phụ cướp khỏi tay người c.h.ế.t rồi ban cho ngươi.”
Ta ghép hai nửa hổ phù lại với nhau, khẽ xoay một cái.
Vết gãy khớp vào nhau, phát ra tiếng giòn vang.
“Cuối cùng, hai nửa hổ phù vẫn rơi vào tay hai người.”
“Ngươi dùng nó đổi hoàng vị.”
“Ta dùng nó đổi lấy con người.”
“Ngươi là kẻ mềm xương.”
Ta ghé sát song sắt, giọng rất nhẹ:
“Cho nên ta thắng.”
Tiêu Hành nhìn ta.
Tia sáng cuối cùng trong mắt hắn tắt hẳn.
Hắn buông song sắt, tựa trở lại vách xe tù, nhắm mắt, không nhìn ta thêm lần nào.
Xe tù lăn bánh xa dần.
12
Bắc Cảnh, trước bia không chữ.
Ta chôn miếng hổ phù đã ghép hoàn chỉnh xuống dưới bia.
Đất đã đóng băng.
Mỗi nhát xẻng bổ xuống đều khiến tia lửa b.ắ.n vào trong tuyết, phát ra tiếng xèo khẽ.
Miếng ngọc được treo trở lại vết tên trên đỉnh bia.
Dây đeo là dây mới.
Sợi dây cha để lại đã mục từ lâu.
Gió thổi qua, miếng ngọc va vào đá, kêu leng keng, giống như có người đang gõ một cánh cửa cũ.
Tiểu Mãn chạy tới, ngẩng đầu nhìn tấm bia.
Những ngón tay từng nứt nẻ vì lạnh đã lành, nhưng các khớp vẫn thô ráp.
“Thiếu chủ.”
Nàng hỏi:
“Tại sao con ưng này không có mắt?”
Ta sững người.
Con ưng cha khắc quả thật không có tròng mắt.
Chỉ có hai hốc lõm đã chứa tuyết suốt mười năm.
“Bởi vì…”
Ta bế nàng lên ngựa:
“Đôi mắt phải tự mình mọc ra.”
Thiết Hoa dắt ngựa đi tới, trong miệng nhai thịt khô:
“Cô nương, trên cờ viết gì?”
Ta nhìn hắc kỵ đang bày trận phía xa.
Mặc giáp phủ tuyết, chim ưng trên vai lặng im, giống như một cánh rừng chưa nảy mầm.
“Không viết.”
“Cái gì?”
“Kẻ cứng xương…”
Ta giơ roi ngựa:
“Không cần tên.”
Trương Thiết Trụ cầm đao, khập khiễng đi tới trước bia.
Ông không quỳ.
Chỉ đứng thẳng, cắm chuôi đao xuống nền đất đóng băng.
“Thiếu chủ.”
Cổ họng ông vẫn khàn, nhưng từng chữ được nói rất rõ ràng:
“Thẩm gia quân ba nghìn không trăm bốn mươi bảy người…”
“Đã có mặt đầy đủ.”
Sau lưng ông, ba nghìn cựu bộ đứng thẳng.
Ưng kỵ cũng đứng thẳng.
Không ai quỳ xuống.
Gió đột nhiên mạnh hơn.
Miếng ngọc trên đỉnh bia bị thổi xoay sang một hướng khác.
Hai hốc lõm trên cánh chim ưng hướng về phía hoàng hôn, giống như đôi mắt trống rỗng.
Đúng lúc ấy, một con chim ưng đen từ trên trời lao xuống.
Không xoay vòng, không kêu vang.
Nó lao thẳng xuống, hai cánh thu lại, giống như một mũi tên màu đen.
Nó đáp lên đỉnh bia, móng vuốt bám vào phiến đá bên cạnh miếng ngọc.
Đồng t.ử màu vàng nâu nhìn thẳng vào ta.
Nó không kêu.
Chỉ im lặng nhìn ta.
Sau đó, nó cúi đầu, dùng mỏ nhẹ nhàng cọ lên vết tên kia.
Đã mười năm.
Kể từ sau khi cha qua đời, những con ưng này chưa từng đáp xuống trước mặt người sống.
Tiểu Mãn ngồi trong lòng ta, khẽ nói:
“Nó về nhà rồi.”
Ta giơ roi ngựa, chỉ về nơi sâu nhất của cánh đồng tuyết.
Gió tuyết tràn vào tai.
Ta nghe thấy ba nghìn kỵ binh đồng thời bước lên một bước.
Mặt đất truyền tới tiếng vang trầm đục.
“Về nhà.”
Toàn văn hoàn.