“Ngài nói đúng.”
“Ta không có hổ phù, không có binh phù, ta chẳng có gì cả.”
“Ngay cả ba người áo đen xuất hiện trong vương phủ đêm qua cũng là những kẻ chạy việc của Truy Phong Môn được ta thuê bằng ba trăm lượng bạc.”
“Cái gì mà huyết mạch thức tỉnh, cái gì mà nhận chủ, đều là lời lừa ngài.”
Nghĩa phụ sững người, sau đó điên cuồng cười lớn:
“Ha ha ha!”
“Ta biết ngay!”
“Ta biết ngươi chỉ giả vờ!”
“Thẩm Tri Vi, ngươi không có huyết mạch!”
“Ngươi lừa được bọn chúng, nhưng không lừa được ta!”
“Đúng, ta không có huyết mạch.”
Ta gật đầu, giọng bình tĩnh như đang nói một chuyện hết sức bình thường:
“Nhưng ta có cốt.”
“Ngài nuôi lợn suốt mười năm, cho rằng thứ nhốt trong chuồng chỉ là thịt.”
“Thật ra…”
Ta giơ tay chỉ về ba nghìn cựu bộ đang cầm đao phía sau:
“Thứ ngài nuôi chính là đao.”
Tiếng cười của nghĩa phụ đột ngột dừng lại.
Ông ta phất mạnh tay:
“Nỏ công thành!”
“Đẩy lên đây!”
Bên ngoài khe núi, ba cỗ nỏ công thành được đẩy tới trước trận.
Loại nỏ này chỉ cần b.ắ.n một phát là có thể xuyên thủng trận khiên.
Ba nghìn cựu bộ gầy trơ xương tuyệt đối không chống nổi ba lượt b.ắ.n đồng loạt.
“Thiếu chủ.”
Trương Thiết Trụ siết c.h.ặ.t đao:
“Người đi trước.”
“Chúng ta ở lại phòng thủ.”
“Không đi.”
Ta đứng sau trận khiên, nhìn gương mặt vặn vẹo của nghĩa phụ:
“Ông ta không dám xông lên.”
“Ông ta không dám cược trong tay ta còn có quân bài nào hay không.”
Nửa ngày qua, nghĩa phụ hoàn toàn có cơ hội g.i.ế.c sạch ba nghìn người.
Nhưng ông ta không dám.
Bởi ông ta không biết rõ át chủ bài của ta, càng không biết phía sau cột khói đen kia có bao nhiêu người.
Quả nhiên ông ta do dự.
Nỏ công thành đã dựng xong, nhưng chậm chạp không hạ lệnh b.ắ.n.
Đúng lúc ấy, trên cánh đồng tuyết xa xa đột nhiên vang lên một tiếng ưng kêu bén nhọn.
Không chỉ một tiếng.
Mà là ngàn vạn tiếng.
Từ phương hướng Bắc Cảnh, từ cuối cánh đồng tuyết, giống như vô số lưỡi đao xé rách gió tuyết.
Nghĩa phụ đột ngột ngẩng đầu.
Nụ cười điên cuồng trên mặt lập tức đông cứng.
Nửa ngày trước, cột khói đen do hoàng lăng nổ tung đã xuyên thủng tầng mây.
Bây giờ, bọn họ đã tới.
Mặt đất bắt đầu rung chuyển.
Không phải động đất.
Mà là vó sắt.
Một dòng thủy triều đen nghịt cuốn tới từ cuối cánh đồng tuyết.
Toàn thân khoác giáp đen, trên vai đậu chim ưng đen, những đôi mắt vàng nâu dưới ánh trăng giống vô số ngọn đèn ma trơi.
Đồng t.ử nghĩa phụ co rút:
“Không thể nào…”
“Không có huyết mạch…”
“Làm sao có thể…”
“Bởi vì thứ ưng kỵ nhận không phải là m.á.u.”
Ta chỉ về ba nghìn cựu bộ phía sau, rồi lại chỉ về hắc kỵ đang dần bao vây:
“Mà là kẻ có cốt, dám cho nổ hoàng lăng, dám cứu người của mình.”
Tiêu Hành bò dậy khỏi đống tuyết.
Hắn nhìn dòng thủy triều đen nghịt kia, lại nhìn ta.
Lần đầu tiên, trong mắt hắn xuất hiện nỗi sợ hãi.
Bàn tay phe phẩy quạt của thái t.ử dừng lại.
Quạt xếp rơi xuống tuyết, sắc mặt hắn trắng bệch.
Ưng kỵ không xung phong.
Bọn họ chỉ lặng lẽ bày trận, giống như một bức tường đen, bao vây ngược người của nghĩa phụ, Tiêu Hành và thái t.ử trong khe núi hoàng lăng.
Nghĩa phụ mặt xám như tro, bàn tay cầm kiếm run rẩy.
Ông ta mang theo năm trăm người.
Nhưng đối diện là ba nghìn cựu bộ cùng số lượng ưng kỵ không thể đếm hết.
Ông ta bỗng hiểu ra.
Bảo tàng ông ta tìm kiếm suốt mười năm chưa từng là vàng bạc châu báu.
Mà chính là đội quân ông ta tự tay nuôi suốt mười năm.
Trong nửa ngày này, ông ta vốn có thể g.i.ế.c sạch ba nghìn người.
Nhưng ông ta không dám.
Bởi ông ta không nhìn thấu át chủ bài của ta, càng không đoán được phía sau cột khói đen kia có bao nhiêu người.
“Tướng quân từng nói.”
Trương Thiết Trụ đứng dậy khỏi mặt đất, xách đao.
Trong mắt ông đầy nước mắt, nhưng nụ cười lại dữ tợn:
“Kẻ mềm xương gả cho người rồi chỉ biết nghe lời nam nhân thì cứ để bọn họ mục nát dưới đất.”
“Kẻ cứng xương…”
Ông ngẩng đầu nhìn ta, giọng khàn như giấy nhám mài lên sắt:
“Kẻ cứng xương phải tự mình tới lấy!”
Thiết Hoa cười vang, nước mắt cũng trào ra:
“Cô nương!”
“Cô nương!”
“Cha của cô đúng là thần cơ diệu toán!”
Gió tuyết càng lúc càng lớn.
Nhưng nghĩa phụ rốt cuộc vẫn là nghĩa phụ.
Nhân lúc ưng kỵ thu trận, khói bụi chưa tan, ông ta đột ngột kéo Chu Mãng, dẫn tàn binh rút theo ám đạo phía tây khe núi.
Ám đạo này là đường lui ông ta tự để lại khi tu sửa hoàng lăng mười năm trước.
Ngay cả Tiêu Hành và thái t.ử cũng không biết.
“Có đuổi không?”
Thiết Hoa xách đao định lao theo.
“Không đuổi.”
Ta giữ nàng lại:
“Cứu người trước.”
“Ba nghìn người đã bị đông lạnh suốt mười năm, không chống đỡ được bao lâu nữa.”
Trương Thiết Trụ khập khiễng đi tới:
“Thiếu chủ, doanh trướng của nghĩa phụ vẫn còn ngoài khe núi.”
“Có cần lục soát không?”
“Lục.”
Thiết Hoa dẫn người xông vào soái trướng tạm thời nghĩa phụ dựng ngoài hoàng lăng.
Nửa chén trà sau, nàng ôm ra một chiếc hộp đồng có niêm sáp.
Trên hộp khắc dấu đầu sói của nghĩa phụ.
“Cô nương, lão hồ ly này chạy quá vội.”
“Ngăn bí mật dưới giường chưa khóa kín.”
Ta cạy hộp đồng ra.
Bên trong không có vàng bạc, chỉ có một phong mật thư niêm sáp.
Dấu sáp là đầu sói của vương đình Bắc Địch.
Ta mở thư.
Nét chữ là b.út tích của Tiêu Hành:
“Việc mượn đường qua cánh đồng tuyết Bắc Cảnh đã thuyết phục được Thẩm Liệt.”
“Sau khi năm vạn kỵ binh vượt Nhạn Môn quan, sẽ tiến thẳng tới kinh thành.”
“Sau khi thành sự, cắt ba thành Bắc Cảnh cho Địch vương…”