Hôn sự được định rất nhanh.
Dì lấy quy cách gả cô nương của Hầu phủ để làm lễ cập kê cho ta, lại tự mình đến trước mộ tổ Hạ gia tế cáo.
Phụ thân ta năm xưa qua đời vì thủy hoạn, mẫu thân thủ tiết mấy năm rồi trước lúc lâm chung mới gửi ta cho dì.
Đồ bà để lại cho ta không nhiều, chỉ có một chiếc vòng bạc cũ và mấy trang trà phương.
Dì bọc vòng bạc trong lụa đỏ, đặt lên trên cùng của hồi môn.
“Mẫu thân con trước kia rất giỏi nấu trà.”
“Sau khi xuất giá, phải nhớ nắm bản lĩnh của mình trong tay.”
Ta đáp một tiếng, ch.óp mũi cay lên.
Trình Vãn Chiếu làm người trợ lễ cho lễ cập kê của ta, còn đặc biệt chọn cho ta một đôi khuyên tai ngọc trai không quá nổi bật.
Nàng nói hạt châu quá lớn sẽ kéo đau tai, nữ t.ử đeo trang sức cũng phải trước hết quan tâm mình có thoải mái hay không.
Câu này khiến cả phòng nữ quyến lại bật cười.
Ngày xuất giá, dì giao khế thân của Xuân Đinh cho ta, lại đưa ta hai chiếc chìa khóa.
“Một chiếc là của trà trang ngoại ô kinh thành, một chiếc là của cửa hiệu phía nam thành.”
“Hầu phủ cho con, không cho phép người khác thay con quản.”
Ta quỳ xuống dập đầu với bà.
Bà lập tức đỡ ta dậy, giọng nhẹ đến run rẩy.
“Phải sống cho thật tốt.”
“Chịu ấm ức thì cứ trở về, cửa Hầu phủ vĩnh viễn chừa cho con.”
Cố gia nhỏ hơn Hầu phủ rất nhiều, nhưng cuộc sống lại đầy hơi người và khói bếp.
Công công Cố lão gia sáng sớm đã phải ra cửa hiệu, bà bà Cố phu nhân thích cầm bàn tính ngồi dưới hành lang đối sổ.
Thấy ta vào cửa, bà không dùng quy củ tân phụ để ép ta, trước tiên đã nhét một xâu chìa khóa vào tay.
“Hai trà phô phố Đông, một tiệm bánh ngõ Nam, trước tiên giao cho con làm quen.”
“Viễn Châu phải chuẩn bị cho kỳ Hội thí, chuyện trong nhà đừng việc gì cũng đi làm phiền nó.”
Ta cầm chìa khóa, sững người.
Bà bà nhướng mày.
“Nếu con thấy nhiều quá thì chia cho ta một tiệm.”
“Rảnh rỗi quá tay ta cũng ngứa.”
Ta vội cười.
“Mẫu thân chịu dạy con, con cầu còn không được.”
Mấy tháng đầu sau khi thành thân, ta và Cố Viễn Châu giống như hai chưởng quỹ hùn vốn.
Ban ngày ta cùng bà bà đi tuần cửa hiệu, chàng ở thư phòng ôn sách.
Đêm xuống chàng cầm quyển bài đến hỏi ta về đường trà và giá thị trường, ta liền trải sổ sách ra trước mặt chàng.
Có lần chàng nhìn những con số chi chít đến đau đầu, ta bưng cho chàng một bát hạnh nhân lạc.
“Cố công t.ử, sổ sách cũng giống sách luận, trước tiên phải nhìn dòng quan trọng nhất.”
Chàng ngẩng đầu lên, vẻ mặt bất đắc dĩ.
“Ở trong nhà vẫn gọi Cố công t.ử sao?”
Tai ta nóng lên, nhỏ giọng sửa lại.
“Viễn Châu.”
Chàng nhận bát hạnh nhân lạc, khóe môi mang ý cười.
“Như vậy mới đúng.”
Ngày tháng lâu dần, lời đồn về ta trong kinh cũng dần tan đi.
Trà Vũ Tiền của trà hành Cố gia được mấy nhà quan quyến yêu thích, Trình Vãn Chiếu thường dẫn tỷ muội tới uống trà.
Có người sầu vì của hồi môn, có người sầu vì quy củ nhà chồng, có người muốn tìm một nữ tiên sinh đáng tin cho muội muội nhà mẹ đẻ.
Ta và bà bà bèn dành một gian nhã thất trên lầu hai, mỗi tháng mời nữ quyến tới uống trà, đổi tin tức, xem mẫu thêu, bàn chuyện cửa hiệu.
Có người cười gọi nơi này là “nữ t.ử trướng phòng”.
Trình Vãn Chiếu đắc ý vô cùng.
“Trướng phòng tốt biết bao, bạc và tin tức đều lưu chuyển ở đây.”
“Ai bảo nữ t.ử chỉ có thể ngồi trong hậu viện khóc?”
Bà bà trừng nàng một cái.
“Con bớt dạy hư con dâu ta đi.”
Trình Vãn Chiếu ôm cánh tay ta không buông.
“Cố bá mẫu, Thanh Đường còn biết dạy người hơn con.”
Ta nhìn căn phòng đầy nữ t.ử, trong lòng chậm rãi sinh ra một sự vững vàng.
Mỗi người chúng ta đều có nỗi khó riêng.
Có người không thể thừa kế cửa hiệu nhà mẹ đẻ, có người sau khi xuất giá ngay cả dùng một khoản tiền riêng cũng phải cân nhắc từng chút, có người bị nhà chồng yêu cầu hiền huệ, nhưng đến ra ngoài gặp bằng hữu cũng phải xin phép.
Có một lần, nữ nhi của chưởng quỹ phường thêu muốn cầm cố cửa hiệu hồi môn, Trình Vãn Chiếu giúp nàng tìm một nha hành đáng tin.
Một cô nương khác có nhũ mẫu bị nhà chồng giữ lại, bà bà liền gửi một tấm thiếp sang.
Mọi chuyện chưa chắc đều có thể viên mãn, nhưng mọi người tụ lại một nơi vẫn hơn một mình buồn bực chịu đựng.
Ngày Cố Viễn Châu đỗ cao kỳ Hội thí, công công vui đến mức đem hết rượu ngon cất nhiều năm ra.
Bà bà chê ông phô trương, miệng mắng nhưng tay lại dặn nhà bếp thêm sáu món.
Tối đến khách khứa đã tan, Cố Viễn Châu đặt một đóa hải đường nhỏ bằng gỗ vào lòng bàn tay ta.
“Là thợ già ở Lâm Châu làm, vốn định đợi bảng vàng công bố rồi mới tặng nàng.”
Ta vuốt mép tượng gỗ, hỏi chàng: “Vì sao lại là hải đường?”
“Khi cây hải đường trong viện nàng nở hoa, nàng đứng dưới cây đối sổ, Xuân Đinh gọi mấy tiếng nàng cũng không nghe thấy.”
Chàng dừng lại một chút.
“Ta cảm thấy khoảnh khắc ấy rất đẹp.”
Gió xuân ngoài cửa sổ lướt qua đầu cành, tượng gỗ trong lòng bàn tay nóng ấm.
Lần đầu tiên ta chủ động nắm lấy tay chàng.
Năm Cố Viễn Châu vào Hàn Lâm viện, trà hành phố Đông gặp một chuyện phiền phức.
Một quả phụ họ Diêu mang hơn mười gánh trà mới tới gửi bán.
Phu quân nàng trước kia làm quản sự trên thuyền Cố gia, sau khi rơi xuống nước qua đời, để lại nàng và một nữ nhi.
Diêu nương t.ử dựa vào trà viên do nhà mẹ đẻ truyền lại để sống, năm nào cũng bán trà cho mấy thương nhân trong kinh.
Năm nay, tộc thúc của nàng cầm một tờ khế cũ, nhất quyết nói trà viên vốn phải thuộc về trong tộc, đến cả trà nàng chở vào kinh cũng muốn giữ lại.
Vị tộc thúc kia còn mời hai lão tiên sinh miệng đầy quy củ, chặn trước cửa trà hành mắng nàng không giữ phụ đạo, tự tiện bán tổ sản.