Ở Tây thị kinh thành, ta có một sạp viết thuê, nhận viết đủ loại văn thư, từ hôn thư, hưu thư đến giấy hòa ly.

Đến ngày thứ ba mở sạp, một cô nương đội mũ có rèm che mặt ngồi xuống trước bàn, vừa khóc vừa nhờ ta viết giấy hòa ly.

Ta hỏi: “Phu quân cô nương tên gì?”

Nàng nghẹn ngào đáp: “Bùi Lâm Xuyên.”

Ngọn b/út của ta khựng giữa trang giấy.

Vị thế t/ử phủ Trấn Viễn hầu vừa trở về kinh dường như cũng mang tên ấy.

Ta không nghĩ sâu xa.

Kinh thành đông người, trùng tên cũng chẳng có gì lạ.

Nào ngờ hôm sau, thế t/ử Trấn Viễn hầu dẫn theo một đội thân binh mặc giáp đen đến vây kín sạp của ta.

Chàng ấn tờ giấy hòa ly xuống mặt bàn, lạnh giọng hỏi: “Ai viết?”

Ta đành giơ tay.

“Là ta.”

Chàng nhìn kỹ ta một lúc rồi lấy từ trong vạt áo ra nửa chiếc khuy bạc cũ.

“Vừa hay.”

“Nàng chính là vị hôn thê mà ta còn chưa cưới về.”

Ta tên Thẩm Tri Thư.

Năm nay mười tám tuổi, sống ở ngõ Liễu Diệp.

Nhà họ Thẩm mấy đời kiếm sống bằng nghề b/út mực, khi còn trẻ phụ thân từng làm thầy kiện.

Ba năm trước, người giúp mấy hộ làm muối thắng kiện đám buôn muối lậu.

Bọn chúng không dám gây chuyện chốn công đường, bèn nhân đêm tối chặn đường phụ thân khi người trở về nhà.

Phụ thân giữ được mạng sống, nhưng hai chân để lại thương tật, từ đó không thể đi đường xa.

Tiền giấy mực, tiền t/h/u/ố/c thang, tiền gạo trong nhà đều phải do ta kiếm.

Vốn dĩ ta chỉ định nhận viết thư nhà, thiệp chúc thọ và văn tế, dần dần gây dựng chút danh tiếng yên ổn.

Khổ nỗi người qua lại Tây thị đều vội vã, chẳng mấy ai chịu dừng chân vì chuyện tao nhã.

Thứ họ thích xem nhất lại là cảnh phu thê cãi nhau.

Ngày đầu mở sạp, một phụ nhân tóc tai rối bù đặt mấy đồng tiền lên bàn.

Vừa mở miệng bà ấy đã hỏi: “Cô nương, cô biết viết giấy bỏ chồng không?”

Ta lục tìm hết mọi điều luật trong đầu, đành thành thật đáp: “Luật pháp không có loại văn thư ấy dành cho người vợ.”

Phụ nhân lại đẩy mấy đồng tiền tới trước: “Vậy viết giúp ta giấy hòa ly.”

Ta viết cho bà ấy.

Qua buổi trưa, phu quân bà ấy khóc lóc tìm đến nhờ viết thư nhận lỗi, thề sẽ bỏ c/ờ b/ạ/c, cũng không động tay đ/á/n/h người nữa.

Bức thư ấy ta cũng viết.

Hôm sau, người đến hỏi viết giấy hòa ly xếp hàng dài tận sạp hoành thánh, thế là ta nổi tiếng.

Sáng ngày thứ ba, ta treo một tấm biển gỗ mới: Hôn thư mười văn, hòa ly hai mươi văn.

Phụ thân trông thấy, chống vào mép giường, suýt nữa đã đứng bật dậy.

Người chỉ tấm biển hỏi: “Tri Thư, con treo tấm biển này lên, còn nhà nào chịu tới hỏi cưới nữa?”

Ta thêm nước vào nghiên mực, chẳng buồn ngẩng đầu: “Không ai tới cưới lại càng hợp ý con, của hồi môn cũng giữ lại được.”

Mẫu thân bưng t/h/u/ố/c vào phòng, trước tiên trừng mắt nhìn ta: “Nói bậy.”

Bà đưa bát t/h/u/ố/c cho phụ thân rồi nhắc ta: “Đừng quên con và phủ Trấn Viễn hầu đã có hôn ước từ lâu.”

Mực nhỏ khỏi đầu b/út, loang thành một đám trên giấy Tuyên.

Mối hôn sự này từ trước đến nay chỉ tồn tại trong lời kể của mẫu thân.

Năm xưa, bà cùng phu nhân Trấn Viễn hầu rủ nhau đi dâng hương, giữa đường gặp phải sơn tặc.

Mẫu thân liều mình dụ đám truy binh đi hướng khác, cứu phu nhân hầu phủ một mạng.

Sau tai kiếp ấy, hai người đính ước cho con cái, rồi bẻ đôi một chiếc khuy bạc chạm hoa mai làm tín vật.

Khi ấy ta ba tuổi, thế t/ử nhà họ Bùi năm tuổi.

Về sau, khi thế t/ử họ Bùi lên mười, chàng theo phụ thân đến biên cương phía bắc, suốt mười năm bặt vô âm tín.

Hầu phu nhân qua đời vì bệnh, Trấn Viễn hầu cũng t/ử trận nơi sa trường, chẳng còn ai nhắc đến hôn ước cũ.

Nó cũng chẳng khác gì cái giếng bị lấp ở đầu ngõ, chỉ còn một cái tên từ thuở trước.

Ta vò tờ giấy hỏng thành một cục, khuyên mẫu thân: “Nương, nay chàng là thế t/ử Trấn Viễn hầu, lại là Tĩnh Bắc tướng quân do chính bệ hạ sắc phong, trong tay còn nắm binh quyền.”

Ta chỉ vào mình: “Còn con thì sao?”

“Con chỉ là kẻ viết thuê giấy hòa ly ở Tây thị.”

Ta xòe tay: “Hôn ước năm xưa ấy, nương đừng coi là thật nữa.”

Nhưng mẫu thân vẫn không chịu thua: “Hồi nhỏ rõ ràng con từng ôm người ta.”

Ta nhắc bà: “Nương, khi đó con mới ba tuổi.”

“Năm ba tuổi con còn từng ôm cả một giỏ vịt, chẳng lẽ con cũng phải gả cho vịt sao?”

Phụ thân sặc t/h/u/ố/c ho sù sụ, còn mẫu thân vớ lấy khăn định đ/á/n/h ta.

Ta ôm hòm sách chạy ra khỏi cửa, đến Tây thị trước khi mặt trời lên cao.

Một cô nương đội mũ có rèm che ngồi trước bàn, y phục tinh xảo, đôi tay không có lấy một vết chai mỏng.

Sau khi được nha hoàn đỡ ngồi xuống, nàng chậm chạp chẳng chịu mở lời, chỉ nén tiếng khóc sau lớp rèm lụa.

Đã quen với những vị khách khó mở miệng, ta bèn gợi chuyện trước: “Hôm nay cô nương muốn lo việc vui, hay muốn cắt đứt duyên tình?”

Bờ vai nàng run lên: “Hòa ly.”

Ta trải phẳng tờ giấy: “Phu quân cô nương tên gì?”

“Bùi Lâm Xuyên.”

Cái tên ấy khiến đầu b/út của ta ngừng lại.

Ta hỏi cho chắc: “Bùi nào?”

Nàng đáp: “Bùi trong họ Bùi.”

“Lâm Xuyên nào?”

“Lâm trong đi bên dòng nước, Xuyên trong trăm sông đổ về biển.”

Vị thế t/ử vừa được phủ Trấn Viễn hầu đón về hôm qua quả thật mang tên này.

Ta không dám t/ùy tiện đặt b/út, bèn dò hỏi: “Cô nương đã bái đường thành thân với người ấy rồi sao?”

Tiếng khóc dưới vành mũ càng thêm nức nở: “Tuy không có hôn thư, nhưng chàng đã từng thề nguyện với ta.”

Ta kéo giấy về: “Nếu chưa thành thân thì không có danh nghĩa gì để viết giấy hòa ly.”

Một nén bạc sáng lấp lánh lập tức được đặt trước mắt ta.

Nàng đổi yêu cầu: “Vậy hãy giúp ta đoạn tuyệt tình nghĩa cho thật sạch sẽ.”

Chương 1 - Viết Thư Tuyệt Tình Cho Vị Hôn Phu - Đọc truyện ngôn tình tổng tài bá đạo miễn phí | Lão Phật Gia