Chàng lại hỏi: “Chiêu Ninh tới à?”
“Không.”
Bùi Lâm Xuyên càng không hiểu: “Vậy nàng khóc cái gì?”
Ta mở hộp gấm, đưa cây trâm bạc đến trước mặt chàng.
Chàng chỉ nhìn một cái đã lặng người, thật lâu sau mới khẽ nói: “Hóa ra cây trâm này trước kia ở trong tay mẫu thân.”
Ta bảo chàng: “Thái hậu ban cho ta.”
Chàng nắm c/h/ặ/t mép hộp, đầu ngón tay trắng bệch.
Lần đầu tiên ta thấy chàng đau lòng đến vậy.
Ta khẽ gọi: “Bùi Lâm Xuyên.”
Chàng ngước mắt: “Ừ.”
Ta chỉ vào cây trâm: “Đến ngày thành thân, ta sẽ cài nó lên tóc.”
Đôi mắt chàng dần đỏ hoe, chỉ đáp một chữ: “Được.”
Ngày thành thân, Tây thị còn náo nhiệt hơn cả hầu phủ, ngõ Liễu Diệp cũng ồn ào hơn ngày Tết.
Thím Triệu bày hoành thánh miễn phí, chú Chu cũng không lấy tiền bánh nướng.
Chưa đầy nửa canh giờ, hai người đã cãi nhau xem ai nhờ việc buôn bán của ai mà đắt khách.
Ta ngồi trong phòng, nghe qua lớp khăn voan đỏ cũng không nhịn được cười.
Mẫu thân hết lần này đến lần khác vuốt phẳng áo cưới cho ta, đến lúc sắp ra cửa, đôi mắt bà rốt cuộc cũng đỏ lên: “Vào hầu phủ rồi, con cũng phải sống cho yên ổn.”
Ta nắm lấy tay bà: “Nương, sau này con sẽ thường về thăm cha mẹ.”
Hôm nay phụ thân cũng thay áo mới, ngồi ngay ngắn một bên: “Nếu thật có kẻ khiến con chịu ấm ức, tuyệt đối đừng cố nhẫn nhịn.”
Ta trấn an người: “Cha cứ yên tâm.”
Rồi ta cố ý trêu hai người: “Nếu thật đến bước ấy, con sẽ tự soạn giấy hòa ly.”
Mẫu thân giơ tay đ/á/n/h yêu ta, nhưng phụ thân lại cười tán thành: “Đúng thế.”
“Con gái nhà họ Thẩm đã cầm chắc được ngọn b/út, cũng phải biết tự viết cho mình một đường lui.”
Tiếng trống nhạc đón dâu từ đầu ngõ dần tiến đến.
Bùi Lâm Xuyên cưỡi ngựa trong bộ hỉ phục đỏ rực, gương mặt lạnh lùng ngày thường hôm nay không sao giấu được nét cười.
Hàng xóm đứng ngoài cửa trêu: “Hôm nay tiểu hầu gia cười đến chẳng còn giữ giá chút nào!”
Có người hùa theo: “Thẩm cô nương mau nhìn xem, tân lang cười thành bộ dạng gì rồi kìa!”
Cũng có người còn nhớ chuyện mình cần lo: “Cô gả vào hầu phủ rồi, sau này chúng ta muốn hòa ly thì biết nhờ ai viết?”
Ta vén một góc khăn voan, hướng ra ngoài đáp: “Sạp vẫn mở như thường!”
Tiếng cười vang khắp ngõ lập tức át cả tiếng chiêng trống.
Bùi Lâm Xuyên đến bên kiệu hoa, khẽ khen ta: “Phu nhân thật chăm chỉ.”
Ta thả khăn voan xuống, vẫn cứng miệng: “Ai là phu nhân của chàng?”
Chàng tính toán rành rọt: “Qua một canh giờ nữa, xưng hô như thế sẽ chẳng sai.”
Ta lẩm bẩm: “Chàng tính chuẩn thật đấy.”
Chàng đáp qua rèm kiệu: “Mười năm ta còn chờ được, càng phải tính cho chuẩn một canh giờ cuối cùng này.”
Lời ấy khẽ rơi xuống, không hiểu sao ta chẳng còn hồi hộp nữa.
Khi kiệu hoa rời ngõ Liễu Diệp, tiếng người dần lùi xa.
Ta không đ/á/n/h mất chốn trở về, mà chỉ có thêm một mái nhà.
Trước cổng hầu phủ giăng đầy lụa đỏ, tiếng khách khứa chúc mừng từng đợt vang cao.
Khi phu thê giao bái, bàn tay Bùi Lâm Xuyên trông rất vững vàng, nhưng những ngón tay giấu trong tay áo lại căng cứng.
Ta ghé lại gần, khẽ hỏi: “Chàng hồi hộp à?”
Chàng thừa nhận: “Ừ.”
Ta thấy lạ: “Trước khi ra trận chàng cũng hồi hộp như vậy sao?”
“Không.”
“Đã không sợ ra trận, sao hôm nay chàng lại sợ?”
Chàng hạ giọng: “Sợ nàng chạy mất.”
Ta suýt bật cười dưới khăn voan: “Hôm nay bộ áo cưới này đè nặng lên người ta thế này, muốn chạy cũng không chạy nổi.”
Chàng xem ra yên tâm hơn: “Vậy thì tốt.”
Hoàn tất hôn lễ, ta ngồi trong tân phòng đến tận lúc trời tối, bụng đói réo liên hồi.
Xuân Đào, nha hoàn theo ta về nhà chồng, nghe thấy liền vội khuyên: “Cô nương, nhịn một chút đi.”
Ngửi thấy mùi thơm ngọt của bánh trái trên bàn, ta hỏi nàng: “Mấy món điểm tâm bày trên bàn, ta ăn trước một miếng được không?”
Xuân Đào khổ sở đến sắp khóc: “Đó là hỉ quả mà.”
Ta đưa tay định lấy: “Đã gọi là hỉ quả, chẳng lẽ bày ra không phải để ăn sao?”
Nàng còn chưa nghĩ được cách cản ta thì cửa phòng đã mở.
Bùi Lâm Xuyên bước vào với hơi men thoảng trên người, bước chân vẫn vững vàng.
Xuân Đào lui ra, chàng dùng cán cân hỷ vén khăn voan của ta lên.
Ánh nến chập chờn trong mắt chàng, chàng nhìn ta thật lâu mà chẳng nói lời nào.
Ta sờ mặt: “Sao thế?”
Cuối cùng chàng cũng lên tiếng: “Đẹp lắm.”
Trong lòng rõ ràng vui thích, ngoài miệng ta vẫn bắt bẻ: “Nếu đem hai chữ ấy viết vào hôn thư thì bình thường quá.”
Bùi Lâm Xuyên cười hỏi: “Vậy phải viết thế nào?”
Ta nghĩ một lúc rồi dạy chàng một câu: “Phải viết rằng vừa gặp nàng đã quên hết người khác, lòng cũng theo đó mà xao động.”
Chàng nhìn vào mắt ta, vô cùng nghiêm túc đọc lại: “Vừa gặp nàng, ta đã quên hết người khác, tâm trí cũng vì nàng mà say đắm.”
Lần này đến lượt mặt ta nóng bừng.
Sau khi uống rượu hợp cẩn, chàng lấy trong n/g/ự/c ra một tờ giấy gấp vuông vức.
Ta lập tức cảnh giác: “Gì thế?”
Chàng đưa đến: “Hôn thư.”
Nét chữ trên giấy cứng cáp sắc sảo, ghi tên hai chúng ta, cũng ghi lời nguyện kết đồng tâm, bạc đầu giai lão.
Thế nhưng dòng cuối lại viết: Nếu nàng phụ ta, cứ để phu nhân viết giấy hòa ly.
Ta cười ngẩng đầu: “Chàng tự viết à?”
“Ừ.”
Ta đọc thêm một lượt, thật lòng khen: “Viết không tệ.”
Chàng hỏi: “Phu nhân có hài lòng không?”
Ta cầm b/út viết thêm vào cuối một câu: Nếu chẳng phụ bạc nhau, hãy viết thêm vài bức thư tình để trừ vào món nợ này.
Bùi Lâm Xuyên nhìn rất lâu, đáy mắt dần sáng lên: “Được.”
Nến đỏ lặng lẽ cháy, trong phòng chỉ còn tiếng vải áo khẽ sột soạt.
Chàng tháo cây trâm bạc chạm hoa mai trên tóc ta, động tác vô cùng nhẹ nhàng, như sợ làm hỏng di vật mẫu thân để lại.
Ta giữ tay chàng, khẽ gọi: “Bùi Lâm Xuyên.”
Chàng đáp: “Ừ.”
Ta nhớ tới nửa túi kẹo năm xưa: “Sau này dù phương bắc còn khắc nghiệt đến đâu, ta vẫn sẽ chuẩn bị kẹo ngọt cho chàng.”
Bùi Lâm Xuyên nắm c/h/ặ/t t/a/y ta, khẽ nói: “Giờ đã không còn khổ nữa.”
Sau khi thành thân, sạp viết thuê của ta vẫn mở, ta vẫn ngày ngày đến Tây thị.
Tấm biển gỗ được thêm một dòng: Thư tình ba mươi văn.
Lần đầu trông thấy, Bùi Lâm Xuyên hỏi: “Trong ba loại văn thư, vì sao chỉ có thư tình là đắt nhất?”
Ta bảo chàng: “Lời tình khó viết lắm.”
Chàng đăm chiêu gật đầu, hôm sau thế mà lại đặt xuống một tờ ngân phiếu một trăm lượng.
Ta cầm tờ ngân phiếu mà ngẩn người: “Tờ ngân phiếu này đủ cho chàng mua bao nhiêu bức thư tình kia chứ?”
Chàng nói: “Trước mắt viết ba bức.”
Ta tính sổ cho chàng: “Chỉ có ba bức thư, thế nào cũng chẳng tiêu hết một trăm lượng.”
Chàng thản nhiên: “Số còn lại cứ để dành.”