Ta nhìn chàng một lúc lâu, cuối cùng cũng hiểu: “Tiểu hầu gia chẳng lẽ thật sự không biết nói lời ngọt ngào dỗ người khác?”

Bùi Lâm Xuyên không trả lời, nhưng sự im lặng đã thay chàng thừa nhận.

Thế là mối làm ăn đầu tiên của ta sau khi thành thân lại là chuyện Bùi Lâm Xuyên nhờ viết thư tình, mà người chàng nhờ viết là ta, người nhận thư cũng chính là ta.

Người Tây thị cười suốt ba ngày, vậy mà ngày nào tan việc chàng vẫn đến mài mực.

Gặp người mang thương tích đến nhờ viết giấy hòa ly, chàng không ngăn cản, chỉ hỏi thêm một câu: “Có cần báo quan không?”

Ai bị thương nặng, chàng liền phái thân binh hộ tống.

Dần dần, kẻ gây chuyện ít đi, người tìm đến cầu cứu lại nhiều hơn.

Phụ thân nhìn hàng người xếp tận ven phố, cảm thán: “Cái bàn nhỏ này của con giờ lo đủ thứ chuyện, sắp bằng nửa tòa nha môn rồi.”

Ta vừa thu tiền vừa nói: “Vào nha môn làm việc, đâu chỉ hai mươi văn là giải quyết cho rõ được.”

Bùi Lâm Xuyên đứng bên tiếp lời: “Cũng chẳng được tặng hoành thánh nữa.”

Thím Triệu nghe mà vui, quay người múc cho chàng một bát đầy ắp.

Về sau Chiêu Ninh quận chúa lại ghé một lần, khi ấy vừa chớm thu.

Nàng thay bộ kỵ trang gọn gàng, đôi mày đôi mắt trong trẻo hơn trước, một mình ngồi xuống trước bàn ta: “Viết một lá thư.”

Ta hỏi: “Gửi cho ai?”

Nàng đáp: “Cho chính ta.”

Nhất thời ta không hiểu.

Chiêu Ninh nhìn tờ giấy trắng, dặn từng chữ một: “Hãy viết cho ta rằng, từ hôm nay trở đi, Chiêu Ninh sẽ không đợi Bùi Lâm Xuyên nữa.”

Trong mắt nàng ngấn nước, nhưng nàng không khóc.

Ta chậm rãi viết xong, đợi mực khô rồi trao cho nàng.

Chiêu Ninh nhìn hồi lâu, đột nhiên gọi: “Thẩm Tri Thư.”

Ta đáp: “Ừm.”

Nàng cất lá thư đi, nhận xét: “Nét chữ của ngươi quả thật xứng với danh tiếng này.”

Ta mỉm cười đáp lại: “Ánh mắt nhìn người của quận chúa hôm nay cũng rất tốt.”

Nàng hừ một tiếng, ném một nén vàng vào hộp tiền.

Ta vội gọi nàng lại: “Viết một lá thư này đâu đáng giá đến cả nén vàng.”

Chiêu Ninh đã phóng mình lên ngựa, chỉ ngoái đầu nói: “Tiền còn thừa cứ để tại sạp, trả giúp những nữ t/ử không đủ tiền thuê viết thư.”

Nàng tung áo choàng đỏ, thúc ngựa rời đi, thần sắc phóng khoáng.

Bùi Lâm Xuyên đến sau lưng ta, nhìn theo hướng nàng khuất bóng: “Nàng ấy đã nghĩ thông rồi.”

Ta gật đầu: “Vậy là tốt.”

Chàng hỏi: “Nàng không ghét nàng ấy sao?”

Ta thành thật: “Trước kia có một chút.”

“Còn bây giờ?”

Ta cẩn thận cất nén vàng vào hộp: “Bây giờ nhìn lại, nàng ấy ra tay còn hào phóng hơn chàng nhiều.”

Bùi Lâm Xuyên im lặng.

Ta cười rồi chạy đi, chàng đuổi theo hai bước, lại sợ đụng đổ sạp hàng nên đành quay lại giữ bàn.

Mọi người chung quanh trông thấy liền cười vang một trận.

Một năm sau, cành liễu ngõ Liễu Diệp xanh mướt, hoa bên ngõ cũng nở rộ.

Ta và Bùi Lâm Xuyên về nhà mẹ đẻ dùng cơm, chân phụ thân vẫn chưa khỏi hẳn, nhưng tinh thần đã khá hơn trước rất nhiều.

Mẫu thân ướm tấm vải mới lên người ta, hỏi ta thích màu gì.

Ta chọn xanh, còn Bùi Lâm Xuyên lại chọn đỏ.

Ta quay sang hỏi chàng: “Rốt cuộc tấm vải này may áo cho ta hay may cho chàng?”

Chàng nghiêm túc trả lời: “Nàng mặc áo đỏ là đẹp nhất.”

Mẫu thân cười cong cả mắt, phụ thân cũng không nhịn được trêu: “Tiểu hầu gia giờ cũng biết nói lời dỗ ngọt người khác rồi.”

Bùi Lâm Xuyên không giành công: “Tri Thư dạy đấy.”

Ta ho khan một tiếng, giả vờ không nghe.

Sau bữa cơm, chúng ta cùng đến Tây thị.

Sạp viết thuê vẫn ở chỗ cũ, Xuân Đào đã biết viết thư nhà, khi tinh thần khá, phụ thân cũng tới chép đơn kiện.

Hôm ấy, một tân lang mới thành thân đỏ mặt ngồi xuống, muốn xin lỗi người vợ đang giận mình.

Ta hỏi chàng ta: “Muốn viết lời hay ý đẹp đến mức nào?”

Chàng ta gãi đầu: “Chỉ cần nàng ấy đọc xong chịu nguôi giận là được.”

Ta cầm b/út viết: Phu nhân bớt giận, tiền bạc trong nhà giao hết cho nàng, bát đũa sau bữa cơm để ta rửa.

Bùi Lâm Xuyên đọc xong, khẽ tỏ ý nghi ngờ: “Thế này cũng tính là thư tình sao?”

Ta quả quyết: “Đương nhiên.”

“Nói lời tình tự đến cuối cùng vẫn là chuyện rửa bát, đã cùng nhau sống qua ngày thì cũng phải có người thu dọn bát đũa.”

Đêm ấy, Bùi Lâm Xuyên thật sự đi rửa bát, trên dưới hầu phủ chẳng ai dám đến gần nhà bếp.

Ta ngồi dưới mái hiên, cười đến không thẳng nổi lưng.

Chàng vừa lau tay vừa bước ra, đứng trước mặt ta: “Cười gì thế?”

Ta ngửa mặt nhìn chàng: “Ta đang cười Tĩnh Bắc tướng quân không ngờ lại giỏi quán xuyến việc nhà đến vậy.”

Chàng chẳng giận, ngược lại còn đòi thưởng: “Nếu ta đảm đang thế này, phu nhân có nên viết một bức thư tình để khen thưởng không?”

Ta gật đầu: “Viết.”

“Viết ngay bây giờ?”

“Ngay bây giờ.”

Ta trải giấy, viết rằng: Bùi Lâm Xuyên, lời thề năm xưa chưa hóa thành tro bụi.

Nếu chàng còn lòng, ta sẽ chẳng rời bỏ.

Cầu chung một bến, đường chung một lối; gặp lại vẫn nhận ra nhau, trùng phùng vẫn ngoảnh đầu.

Câu cuối vốn định viết “Nếu chàng phụ bạc…”, nhưng trước khi hạ b/út, ta lại ngẩng đầu nhìn chàng.

Chàng cũng đang nhìn ta, thế là ta gạch đi câu cũ, sửa thành: Nếu chàng không phụ, năm tháng nào ta cũng cùng chàng trở về.

Chàng cầm tờ giấy đọc rất lâu, đột nhiên hỏi: “Lần này không nhờ ông trời giáng sét nữa à?”

Ta lắc đầu: “Không nỡ.”

Ánh mắt Bùi Lâm Xuyên dịu xuống, chàng cúi người ôm ta vào lòng.

Ngoài cửa sổ, cánh hoa rơi phủ bậc thềm, chuông gió khe khẽ ngân, ta tựa vào chàng, trong lòng không còn chút trống trải.

Trước kia, ta nghĩ văn thư cũng chỉ là một tờ giấy, cuộc sống tốt hay xấu đều do lòng người.

Nhưng Bùi Lâm Xuyên nói, những lời đã viết xuống thì rốt cuộc cũng có chứng cứ để lưu lại.

Vậy là ta đặt bức thư mới viết vào hộp gỗ, để cạnh nửa chiếc khuy bạc, cũng cất cả lá thư tuyệt tình cũ vào trong.

Bên cạnh còn đè lên bức thư tuyệt tình đầu tiên.

Bùi Lâm Xuyên hỏi giữ nó làm gì, ta đáp: “Đây là món nợ rối rắm đầu tiên giữa hai chúng ta.”

Chàng cầm lá thư cũ lên: “Đã tính xong chưa?”

Ta ngẫm nghĩ một lát: “Chẳng tính rõ nổi.”

Chàng hỏi: “Vậy phải làm sao?”

Ta nắm tay chàng: “Cứ từ từ tính.”

Chàng cong môi: “Muốn tính cùng ta đến già sao?”

Ta gật đầu: “Vậy thì tính đến già.”

Hôn thư ta vẫn sẽ viết, giấy hòa ly ta cũng vẫn viết như thường, nhưng từ nay về sau ta muốn viết thư tình nhiều hơn.

Viết cho Bùi Lâm Xuyên, cũng viết cho chính mình.

Viết rằng ta không cần nhường bước, vẫn được giữ sạp hàng và ngọn b/út của mình như xưa, ánh mắt thiên hạ hay cổng cao hầu phủ đều không thể ngăn cản.

Viết về những mùa đông hạ trôi qua, luôn có một người đứng bên sạp của ta, mài mực giúp ta.

Năm ấy, Tây thị ngập nắng đẹp, chàng mang theo thư tuyệt tình đến tìm ta.

Để rồi cuối cùng, chính tay ta lại viết cho chàng một bức hôn thư.

HẾT.