Điều này vốn là chuyện nghịch thiên, bởi núi Bút Giá vốn có phong thủy cực tốt.

Nhìn sang những khu vực khác trên núi, cây cối vẫn tốt tươi, chứng tỏ trong vòng mấy mươi năm qua không hề có đại tai biến nào phá hỏng long mạch.

Sinh khí và địa khí của núi Bút Giá lẽ ra phải cực kỳ dồi dào. Vậy mà, chỉ duy nhất khu mộ tổ nhà họ Khấu là xuất hiện tình trạng cỏ héo hóa đen, sinh khí tiêu biến một cách bất thường.

Mộ tổ vô cớ sụt lún, cỏ cây c.h.ế.t ch.óc kỳ quái, đây rõ ràng là điềm báo đại hung.

Bầu trời lúc này trở nên âm u, không khí oi bức đến nghẹt thở, mặt trời bị những tầng mây đen kịt che lấp hoàn toàn.

Ở phía xa, từng đàn chim ch.óc đang hối hả di cư sang ngọn núi khác.

Quanh khu mộ tổ nhà họ Khấu lúc này tuyệt nhiên không thấy bóng dáng của bất kỳ loài sinh vật nhỏ nào, dường như ngay cả động vật cũng cảm nhận được sự tuyệt diệt của sinh khí mà không dám lưu lại đây trú ngụ.

Cách khu mộ tổ chừng năm mét, một chiếc thần đài đã được bày ra, phía trước cắm những lá cờ lệnh màu vàng của Đạo giáo – loại cờ chuyên dùng khi tế bái và tu sửa mộ phần.

Đúng lúc này, một thanh niên họ Khấu tay bưng một chiếc lệnh kỳ, gương mặt thất thần, hoảng loạn chạy xộc tới: “Nhị bá, đại sự không ổn rồi, lệnh kỳ đã bị gãy đoạn!”

Đám trưởng bối nhà họ Khấu vừa nghe thấy thế, ai nấy đều lộ vẻ kinh hoàng tột độ.

Khấu phụ thân hình chao đảo, suýt chút nữa là ngã quỵ, cũng may có Khấu Tuyên Linh đứng phía sau kịp thời đỡ lấy.

Khấu phụ vốn là người đứng hàng thứ hai trong tông tộc, còn cậu thanh niên giữ nhiệm vụ canh giữ lệnh kỳ chính là cháu ruột của ông.

Khấu phụ run rẩy tiếp lấy chiếc kỳ lệnh từ tay cháu mình, giọng run b.ắ.n: “Bị bẻ gãy? Ngươi nói là nó tự gãy sao?”

Cậu thanh niên nọ lắp bắp: “Cháu vẫn luôn túc trực bên cạnh thần đài, chỉ vừa mới xoay người đi một lát thì bỗng nghe thấy tiếng ‘rắc’ khô khốc của gỗ gãy. Đến khi ngoảnh đầu lại nhìn, chiếc lệnh kỳ đã đứt làm đôi tự bao giờ.”

Trong Đạo giáo, lệnh kỳ cắm trên thần đài không chỉ là pháp khí để ra hiệu lệnh khi thi pháp, mà còn có tác dụng như một món đồ "dò đường" tâm linh.

Khi Thiên sư tác pháp, nếu lệnh kỳ đột ngột gãy đoạn hoặc đổ ngã, đó chính là lời cảnh báo nghiêm trọng từ thần linh rằng tuyệt đối không được tiếp tục, nếu cố tình làm trái ắt sẽ có đại họa giáng xuống đầu.

Đối với những đại sự như tu bổ hay di dời mộ phần, lệnh kỳ đóng vai trò trấn giữ long mạch; một khi kỳ gãy, việc tu sửa buộc phải đình chỉ ngay lập tức để tránh động chạm đến phần âm.

Sau một hồi bàn bạc gấp gáp với các bậc trưởng lão trong tộc, Khấu phụ trầm giọng bảo với Khấu Tuyên Linh: “Chúng ta phải lên núi ngay, đi kiểm tra thủy khẩu (cửa nước).”

Thế là cả đoàn người hối hả lên núi, Trần Dương và Lục Tu Chi cũng lặng lẽ bám theo sau.

Lục Tu Chi vẫn giữ khoảng cách sát sao ngay sau lưng Khấu Tuyên Linh. Điều kỳ lạ là người nhà họ Khấu dường như chẳng mấy ai để tâm đến sự hiện diện của anh ta; dù có vô tình liếc mắt qua, họ cũng nhanh ch.óng dời tầm mắt đi chỗ khác, cứ như thể anh ta chỉ là một hòn đá hay một gốc cây vô tri vô giác giữa rừng già.

Cả đoàn người tiến lên đỉnh núi, chuẩn bị từ nơi thủy khẩu mà quan sát toàn cảnh phong thủy của núi Bút Giá.

Trong phong thủy, núi cao được ví như Rồng (Long), uốn lượn chạy dài rồi phủ phục xuống mặt đất.

Đất là mẹ của khí, sinh khí tiềm tàng trong núi chính là Long mạch.

Rồng thuộc Dương, nước thuộc Âm; âm dương giao hòa, rồng nước quấn quýt lấy nhau mới tạo nên đất cát lành.

Bởi vậy, muốn xem xét một vùng đất bảo địa, người ta phải quan sát sự cát hung của Long (thế núi), Sa (đất bao quanh) và Thủy (dòng nước).

Trong đó, việc xem xét Thủy khẩu là trọng yếu nhất, bao gồm cả nơi nước đổ vào và nơi nước chảy ra.

Trong mật quyết phong thủy có câu: “Thiên môn khai, Địa hộ bế”. Thiên môn là cửa nước vào, nên rộng mở thênh thang để đón tài lộc; Địa hộ là cửa nước ra, nên thu hẹp kín kẽ để giữ lại linh khí.

Nếu thủy khẩu bị phán là hung địa, nó sẽ mang đến tai ương t.h.ả.m khốc cho cả gia trạch lẫn con cháu của những người đang yên nghỉ tại đây.

Trần Dương cùng mọi người men theo con đường mòn nhỏ để bò lên đỉnh núi.

Trên đường đi, họ ngang qua một hồ nước sâu thăm thẳm, xung quanh cây cối rậm rạp che khuất cả ánh mặt trời.

Nếu nhìn kỹ, người ta sẽ thấy dưới đáy hồ phủ đầy những cành cây khô gãy nát, lấp gần như kín đáy, khiến cho mặt hồ vốn tĩnh lặng nay lại toát ra một vẻ t.ử khí trầm trầm, lạnh lẽo đến gai người.

Khấu phụ đứng bên bờ hồ, đôi mày nhíu c.h.ặ.t: “Chuyện này là sao? Hồ nước này nồng nặc t.ử khí, dường như dòng chảy đã bị tắc nghẽn hoàn toàn rồi. Tuyên Linh, con mau xuống xem thử chất nước thế nào.”

Khấu Tuyên Linh đáp lời rồi thận trọng tiến lại gần mép nước.

Trần Dương và Lục Tu Chi lúc này cũng đang đứng rất gần đó.

Khi thấy Khấu Tuyên Linh phải vất vả vòng qua những bụi gai rậm rạp, nghiêng mình mới có thể chạm tới mặt nước, Lục Tu Chi đã chủ động đưa tay nắm lấy cổ tay gã, tạo một điểm tựa vững chắc để gã có thể với xuống xem xét.

Khấu Tuyên Linh không mảy may nghi ngờ, gã mượn lực từ tay Lục Tu Chi rồi một chân đạp lên bờ, một chân rón rén dẫm lên một phiến đá nhô lên khỏi mặt nước.

Nhìn từ xa, mặt hồ có vẻ khá sạch sẽ, nhưng khi đến gần, gã mới kinh hoàng nhận ra nước hồ vô cùng vẩn đục, đáy hồ đen ngòm như một vực thẳm không đáy khiến lòng người bất an vô cùng.