Chưởng quầy vừa nhìn thấy biển phủ Tướng quân đã mềm chân hơn nửa, nhưng vẫn c.ắ.n c.h.ặ.t rằng ngọc bội đã được nhận đúng quy củ.
Ta khép sổ lại, nói với Cố Thừa Hựu: “Con lấy tiền trong phủ đi đ.á.n.h bạc, khoản ấy tự con phải bù.”
“Từ ngày mai, con đến tiệm lương của Cố gia học tính sổ.”
“Tiền tháng ghi từng đồng một vào sổ.”
“Ngọc bội ta chuộc lại giúp con.”
“Sau này mỗi tháng con giữ lại hai phần tiền tiêu, còn lại dùng trả nợ.”
Cố Thừa Hựu đột ngột nhìn ta: “Dựa vào đâu mà người quản ta?”
“Cha con cưới ta vào cửa, chuyện trong phủ liền thuộc phần ta quản.”
Ta không cao giọng: “Nếu con không phục, đặt ba mươi lượng lên bàn.”
“Ta lập tức cất sổ, từ nay không nói thêm nửa lời.”
Nó lấy đâu ra ba mươi lượng, chỉ có thể c.ắ.n răng im lặng.
Chưởng quầy sòng bạc muốn nhân cơ hội nâng giá.
Ta nhìn hắn nói: “Ngọc bội là vật cũ của phủ Tướng quân.”
“Lúc nhận ngươi không tra rõ lai lịch đã dám dùng làm bẫy.”
“Ngục Kinh Triệu phủ không rộng lắm.”
“Nếu muốn vào thử, ta sai người đi cùng ngươi một chuyến.”
Mặt chưởng quầy lập tức sụp xuống, liên tục nói chỉ cần chuộc đúng giá cũ.
Đêm ấy Cố Thừa Hựu không ăn cơm, nhưng sáng hôm sau lại đúng giờ theo chưởng quầy đến tiệm lương.
Ngày thứ ba tuyết rơi lớn, đến giờ Dậu nó mới về, giày đầy bùn.
Minh Lan ôm khăn nóng chạy tới muốn lau tay cho nó.
Ban đầu nó không chịu, thấy con bé lạnh đến nhảy chân, rốt cuộc vẫn đưa tay ra.
Ta đứng dưới hành lang, nhìn Cố Thừa Hựu lau khô tay cho Minh Lan, nhớ đến dáng vẻ nghển cổ chịu mắng ban nãy.
Trước kia chỉ cần không vừa ý là nó chạy ra sòng bạc hoặc trút giận lên hạ nhân.
Nay nó chịu dừng lại nghe vài câu, đã tốt hơn rất nhiều so với lúc ta mới vào cửa.
Cố Thừa Hựu ở tiệm lương nửa tháng, vẻ nóng nảy trên mặt vơi đi không ít.
Mỗi ngày về phủ, nó đều sang thắp hương cho mẫu thân đã mất trước rồi mới dùng cơm.
Bài vị vẫn đặt ở thiên sảnh.
Ta cố ý cho người thay lư hương mới, lại đặt lên đĩa bánh hoa quế mẫu thân nó từng thích.
Nó nhìn thấy thì sắc mặt rất khó coi, xông vào hỏi ta: “Người động vào bài vị của mẫu thân ta làm gì?”
Ta đang cắm hoa, tay còn dính giọt nước, liền lấy khăn lau.
“Bài vị cũ rồi, lư hương cũng nứt.”
“Ta cho người thay cái mới.”
“Ai cho người thay?”
Ta ngẩng đầu nhìn nó: “Không ai cho.”
“Ta thấy lư hương nứt nên mới bảo người đổi.”
“Nếu con thấy không hợp, ngày mai ta cho đổi lại.”
Cố Thừa Hựu sững ra.
Nó vốn đã chuẩn bị cả bụng lời cay nghiệt, đến miệng lại không nói được.
Ta đẩy đĩa bánh hoa quế về phía nó: “Lưu tẩu làm theo công thức mẫu thân con để lại.”
“Muốn ăn thì ăn một miếng, không muốn ăn thì cứ để đó.”
“Ngày mai con vẫn tới thắp hương như thường, không ai cản.”
Nó đứng rất lâu rồi mới chậm rãi đi đến trước bài vị, cung kính thắp ba nén hương.
Cảnh Sơ dẫn Minh Lan đi ngang ngoài cửa.
Minh Lan học theo ca ca, chắp hai tay trước n.g.ự.c, cúi người vái bài vị một cái.
Cố Thừa Hựu quay đầu nhìn con bé.
Minh Lan hơi sợ, trốn sau lưng Cảnh Sơ, nhưng vẫn ló đầu ra nói: “Mẫu thân của đại ca ca cũng sẽ phù hộ đại ca ca.”
Vành mắt nó lập tức đỏ lên.
Nó quay lưng đi, giọng khàn khàn: “Trẻ con đừng nói bừa.”
Tối ấy nó ăn hai miếng bánh hoa quế, miếng còn lại gói trong giấy dầu bỏ vào n.g.ự.c áo.
Về sau ta mới biết, nó muốn mang đến trước mộ cho mẫu thân.
Mộ ở ngoài thành, đường xa, nó không thể đi một mình, đành giữ miếng bánh mấy ngày, chờ đến hôm Cố Đình Chu nghỉ mới cùng đi.
Hai cha con trở về thì trời đã tối.
Cố Đình Chu đứng ngoài cửa rất lâu, bỗng nói với ta: “Sương Hòa, mấy năm nay chuyện trong nhà vất vả cho nàng rồi.”
Ta nhìn tuyết đọng trên vai ông, trong lòng ấm lên đôi chút, nhưng chỉ đáp: “Mau vào đi, bọn trẻ đang chờ ăn cơm.”
Sau khi vào xuân, Tề Tu Viễn sai người đưa tới một tấm thiếp, nói lão phu nhân bệnh nặng, muốn gặp Cảnh Sơ và Minh Lan một lần.
Cảnh Sơ nắm tấm thiếp, gân xanh trên mu bàn tay nổi lên.
Những uất ức nó từng chịu ở Bá phủ vẫn chưa quên, nhưng lại sợ nếu mình không đi sẽ bị người ta nói là bất hiếu.
Ta ném tấm thiếp vào chậu than.
Đợi ấn đỏ của Bá phủ bị lưỡi lửa cuốn lên, ta mới đặt kẹp than xuống.
Nó giật mình: “Mẫu thân?”
“Lúc trước Bá phủ đã xóa tên hai con khỏi tộc, văn thư còn nằm trong rương của ta.”
Ta nhìn ngọn lửa cháy đến góc thư: “Nếu lão phu nhân thật sự bệnh đến không xuống giường được, Tề Tu Viễn đang ở trong phủ, chưa đến lượt hai đứa trẻ đi bưng t.h.u.ố.c.”
“Bây giờ bà ấy muốn gặp con, phần lớn là nghe nói con đã vào Tùng Hạc thư viện, lại nhớ đến đứa cháu này.”
Cảnh Sơ mím môi ngồi bên chậu than, mắt cứ nhìn tấm thiếp cháy thành tro, nửa ngày không nói gì.
Ta lại nói: “Nếu con muốn đi thăm bà ấy, ta đi cùng.”
“Nếu con không muốn, ta sẽ giữ c.h.ặ.t cửa.”
“Ai lấy hai chữ hiếu thuận ép con, ta không nhận.”
Cảnh Sơ nhìn đống tro hồi lâu rồi lắc đầu.
Chẳng mấy ngày sau, Đỗ thị lại dẫn vài bà t.ử tới cửa.
Nàng mặc áo xuân màu hồng đào, bụng đã nhô cao.
Vừa vào cửa đã sờ nước mắt, nói Cảnh Sơ không hiểu chuyện, hại bệnh tình lão phu nhân nặng thêm.
Ta mời nàng ngồi ở hoa sảnh, nhưng không cho dâng trà.
Đỗ thị nhìn một vòng bài trí trong phòng, đáy mắt thoáng qua vẻ ghen ghét, sau đó lại cười: “Tỷ tỷ nay thật có phúc.”
“Gả vào phủ Tướng quân rồi liền không nhận người cũ.”
“Cảnh Sơ dù sao cũng là trưởng tôn Bá phủ, vẫn nên về dập đầu với tổ mẫu một cái.”
“Đỗ phu nhân nhớ nhầm rồi.”
Ta đặt văn thư xóa tên lên bàn: “Cảnh Sơ nay theo họ Liễu của ta, tên đã được ghi vào gia phả nhà mẹ đẻ.”
“Bá phủ muốn gọi nó về thì trước hết phải giải thích chuyện năm đó đuổi người, đoạn thân.”