"Điện hạ, người đây là..."
Mùng một Tết Nguyên Đán, chùa Thương Sơn khắp nơi đều là hương khách đến cầu nguyện Phật tổ cho một năm mới bình an. Trong lòng họ ôm nén hương và nến cúng dường, thần sắc trang nghiêm, bước chân vội vã giẫm lên lớp tuyết trước cổng chùa, để lại trên nền đất sạch sẽ từng dấu chân bùn lầy lội.
Tạ Thức Kinh nhìn đám bùn bẩn thỉu ấy, không đáp lời Huyền Cơ pháp sư. Hắn cúi đầu nhấp một ngụm trà "Độ Phong Tuyết" giá nghìn vàng, hơi nước bốc lên từ chén trà làm mờ đi ngũ quan quá sắc sảo của hắn, khiến thần sắc hắn như mang thêm một tia mơ hồ xa vắng.
Không khí trầm mặc, chuỗi tràng hạt trong tay Huyền Cơ lách cách xoay một vòng cũng chẳng có ai đoái hoài. Ông nhìn Tạ Thức Kinh đang ngồi trên ghế trúc, có ảnh vệ cầm ô che, thưởng trà thong dong, rồi phủi lớp tuyết đọng trên vai, cuối cùng không nhịn được gọi một tiếng nữa: "Điện hạ?"
Tạ Thức Kinh nghe tiếng ngước lên, như thể bây giờ mới để ý thấy Huyền Cơ đứng bên cạnh đã lâu, đưa chén trà trên tay cho ảnh vệ đứng kế bên, rồi chỉnh lại áo bào, thong thả đứng dậy hành một lễ: "Không biết Huyền Cơ pháp sư tự mình đón tiếp, thất lễ rồi."
"A Di Đà Phật, Điện hạ khách khí. Chỉ là không biết lần này người đến vì ai?"
Tạ Thức Kinh khựng bước chân đang bước qua cổng chùa, nét mặt đầy hứng thú: "Ồ? Pháp sư sao biết bản vương đến vì người?"
Huyền Cơ lại niệm một câu "A Di Đà Phật", tràng hạt trong tay va vào nhau phát ra tiếng leng keng thanh thúy: "Vào chùa dâng hương, trên đến hoàng thân quốc thích, dưới đến bách tính thường dân, ai mà chẳng hoặc vì mình, hoặc vì người mà đến?"
Tạ Thức Kinh khẽ cười một tiếng: "Hôm nay bản vương đến đây chỉ vì một người..."
Nói rồi hắn quay đầu nhìn gã thái giám đang run rẩy bên cạnh: "Vệ công công, ngươi sao còn chưa tuyên chỉ?"
Vệ công công vốn được Lục tổng quản cử đến để theo dõi Tạ Thức Kinh, tránh việc hắn phá hỏng mối "hôn sự tốt" này. Trên đường đến, ông ta và Tạ Thức Kinh ngồi trên xe ngựa riêng, nước sông không phạm nước giếng. Nhưng khi lên núi, Tạ Thức Kinh lấy cớ xe ngựa quá nhiều sẽ ảnh hưởng đến sự thanh tịnh của Phật tổ, đã cho áp giải xe ngựa của ông ta, bảo ảnh vệ xách bằng khinh công đưa lên núi.
Chùa Thương Sơn vốn địa thế hiểm trở, khắp nơi đều dốc đứng vách sâu. Ảnh vệ vốn đã không vừa mắt tên thái giám này, trên đường đi còn cố ý buông tay vài lần. Khiến Vệ công công trải qua một phen kinh hồn bạt vía, cảm giác mạng già của mình bất cứ lúc nào cũng có thể rơi xuống vực thẳm. Ông ta đã bị dọa vỡ mật từ sớm, đến giờ vẫn mặt mày tái mét, toàn thân run lên bần bật, đã quên sạch mục đích đến đây. Giờ đột nhiên nghe thấy lời trách móc của Tạ Thức Kinh, hai chân theo phản xạ mềm nhũn, cả người nằm rạp xuống đất, chưa nói, ngay cả tấm thánh chỉ màu vàng óng trên tay cũng lăn mấy vòng trong vũng bùn lầy.
Vệ công công thấy cảnh trước mắt, vội vàng bò dậy, không ngừng dập đầu về phía Tạ Thức Kinh, miệng lẩm bẩm: "Vương gia tha mạng, Vương gia tha mạng..."
Đỗ Vân bên cạnh thấy chưa đủ, còn thêm dầu vào lửa: "Vương gia, kẻ này cố tình làm hỏng thánh chỉ, theo luật triều Đại Chu, đáng tội đ.á.n.h trượng chín mươi roi."
Chín mươi gậy xuống, dù là cao thủ võ nghệ cũng phải về nhà nghỉ ngơi ít nhất ba tháng mới xuống giường được, huống chi một tên thái giám thân thể mềm yếu.
Vệ công công nghe đến đây, hai mắt trợn ngược, đổ người xuống bất tỉnh.
"Ha ha ha, Vương gia mau xem, dọa một chút là ngất luôn rồi, ha..." Đỗ Vân cười một mình một lúc mới nhận ra bốn phía yên tĩnh đến lạ. Hắn vội vàng ngậm miệng, ngước nhìn sắc mặt Tạ Thức Kinh một cái, ngoan ngoãn lui sang một bên, còn len lén làm mặt quỷ với một ảnh vệ khác.
Tạ Thức Kinh giơ tay, một ảnh vệ khác lập tức bước lên lôi tên thái giám đang nằm bất tỉnh trên đất đi.
Chờ kẻ cản trở rốt cuộc bị lôi đi, Tạ Thức Kinh khẽ cúi người nhặt tấm thánh chỉ dính đầy bùn nước trên đất lên, thở dài: "Tiếc thật."
Đỗ Vân nghe vậy, đứng sau gãi đầu. Tiếc? Đỗ Vân nhất thời không hiểu. Hôn sự này Vương gia vốn chẳng tự nguyện, nhưng ngoài mặt lại không thể công nhiên kháng chỉ. Yêu ai ghét cả nhà, chẳng lẽ Vương gia không nên cực kỳ chán ghét tấm thánh chỉ này sao?
Tạ Thức Kinh nhặt thánh chỉ lên, đưa mắt nhìn quanh một lượt, hướng Huyền Cơ pháp sư xác nhận: "Tất cả mọi người trong chùa đều ở đây rồi?" Thấy Huyền Cơ khẽ gật đầu, hắn mới mở thánh chỉ ra, không chút cảm xúc tuyên đọc: "Hứa Tầm tiếp chỉ..."
Huyền Cơ pháp sư và các nhà sư bên cạnh nhìn nhau, cuối cùng vẫn cứng đầu quỳ xuống.
"Phụng thiên thừa vận Hoàng đế, chiếu rằng: Nhiếp chính vương Tạ Thức Kinh lập nhiều chiến công, tuổi trẻ anh kiệt, trẫm rất khen ngợi. Hứa thị di cô Hứa Tầm trời sinh thông minh, tú ngoại tuệ trung. Nay đặc chỉ ban cho hai người kết làm phu phu, để tôn vinh trung thành của bề tôi có công, an ủi linh hồn anh hùng, khanh thử."
Lời dứt, đám đông trầm mặc hồi lâu, các nhà sư không dám cất một tiếng.
Tạ Thức Kinh vuốt ve mép thánh chỉ, không lộ thanh sắc liếc nhìn vào đám đông một cái: "Hứa Tầm đâu? Sao còn chưa ra tiếp chỉ tạ ơn?"
Tiết trời tháng chạp rét cắt da, nhưng giữa cái lạnh thấu xương ấy, thái dương Huyền Cơ lại rịn ra một lớp mồ hôi lạnh. Ông dùng tay áo rộng thùng thình lau đi, giọng nói ấp úng: "Cái... Điện hạ có điều không biết, Hứa thí chủ cậu ấy... không ở đây."
Tạ Thức Kinh chưa kịp lên tiếng, Đỗ Vân đã nóng nảy: "Này lão hòa thượng, Vương gia nhà ta vừa hỏi người có ở đây không, ông đã gật đầu, sao giờ lại thiếu người?"
Huyền Cơ nghe thấy hai chữ 'lão hòa thượng' liền biến sắc, định nổi trận, nhưng liếc thấy Tạ Thức Kinh bên cạnh ngày càng tỏ vẻ không kiên nhẫn, đành phải nghiến răng đáp: "Hứa thí chủ là khách quý tá túc ở đây, không thuộc phạm vi quản giáo của bần tăng."
"Ngươi..." Đỗ Vân định nói thêm vài câu hù dọa, nhưng bị Tạ Thức Kinh giơ tay ngăn lại, đành ngậm miệng, vẻ mặt bẽn lẽn lui sang một bên.
"Đã vậy, phiền Huyền Cơ pháp sư dẫn bản vương đến tìm vị Hứa thí chủ này."
Trong ngôi chùa trang nghiêm huy hoàng cũng có nơi ánh Phật không soi tới. Trên một đoạn tường đổ nát ở hậu viện, một thiếu niên khoác áo bào xanh đang ngồi xếp bằng.
Chiếc áo bào ấy trông đã biết giá trị không nhỏ, trên đó những đám mây hạc dệt bằng chỉ vàng đang tung cánh bay dưới ánh tà dương. Ấy vậy mà chiếc áo bào quý giá đó lúc này lại bị thiếu niên không tiếc chút nào lót dưới m.ô.n.g, dùng để cách lớp tuyết và bụi bẩn trên tường.
Không chỉ áo bào, mọi vật trên người thiếu niên đều là trân phẩm. Chiếc ngọc bội "Song Ngư Hý Châu" thắt bên hông được chạm khắc từ ngọc ấm Côn Sơn vô giá, trên đầu đội trâm cài ngọc phỉ thúy sơn thủy mạ vàng tiến cống từ Tây Dương, dưới chân đi hài vân ti do gấm vóc làm mặt, lụa là lót trong.
Nhưng thật khó hiểu, thiếu niên ăn mặc xa hoa ấy trên tay lại đang cầm một nửa cái bánh bao trắng đã bị xé, lẩm bẩm với không khí trước mặt điều gì đó.
"Mấy người đúng là bị nuông chiều quen rồi, bây giờ đến bánh bao trắng cũng không ăn, vậy các ngươi muốn ăn gì? Ăn thịt hả?"
Đáp lại Hứa Tầm là một tràng meo meo.
"Thôi thôi, nhìn các ngươi mập mạp thế này chắc chẳng thiếu ăn."
Thiếu niên nói rồi đặt số bánh bao còn lại vào đĩa bên cạnh, cúi xuống tiện tay bế một con mèo có bộ lông nhiều màu lên đặt lên đùi.
Chú mèo nhỏ ấy chẳng khách sáo, vừa đến được vòng tay ấm áp đã vươn vai, vừa rên gừ gừ trước n.g.ự.c Hứa Tầm vừa mài móng vuốt, chỉ trong chớp mắt đã để lại trên người thiếu niên mấy dấu chân đất nhỏ xinh, vành áo tỉ mỉ cũng bị móc ra vài sợi tơ.
Nhưng thiếu niên trông có vẻ chẳng hề bận tâm, tay vuốt ve mèo, mắt lại nhìn về phía mặt trời tàn đang dần hạ xuống xa xa.
Hắn nghĩ: Bao giờ hắn cũng có thể cùng mặt trời lặn xuống núi nhỉ?
"Hứa Sơ?"
Giọng nói bất chợt gọi một cái tên chưa từng nghe, Hứa Tầm không có phản ứng gì, thậm chí còn lười ngoảnh lại, nhưng chú mèo trên đùi hắn lại bỗng nhiên dựng lông, cong lưng, phóng khỏi chân hắn.
Chú mèo nhỏ lúc này đang trong tư thế phòng bị, khiến chẳng ai dám tùy tiện đến gần. Hứa Tầm bị dọa giật mình, theo bản năng ngả người ra sau muốn lùi lại. Nhưng hắn quên mất mình đang ngồi xếp bằng trên bức tường thấp, ngả người ra sau là cả cơ thể mất thăng bằng ngã về sau.
May mà bức tường này không cao, dù ngã thẳng xuống cũng chẳng đau đớn gì.
Nghĩ đến tiếng gọi xa lạ vừa rồi, Hứa Tầm đành nhắm mắt lại, cố ra vẻ mình rất trấn tĩnh, mong giữ hình tượng thong dong trước người xa lạ. Nói cho cùng, hắn chỉ không muốn mất mặt.
Một làn gió thổi qua, Hứa Tầm không ngã xuống đất, lại rơi vào một vòng ôm tỏa ra mùi tín hương nhàn nhạt ngọt thanh.
Hứa Tầm khẽ động mũi, nhận ra mùi hoa hợp hoan.
Sau gần một năm huấn luyện, hắn theo phản xạ bắt đầu tìm kiếm trong đầu tác dụng của hợp hoan. Nhưng suy nghĩ nát óc cũng không ra: là gì nhỉ, giải uất an thần? Dưỡng tâm an thần? Rốt cuộc là cái gì an thần nhỉ? Quả nhiên công dụng thảo d.ư.ợ.c gì cũng khó nhớ nhất...
Hắn nghĩ mải miết, hoàn toàn quên mất mình đang nằm trong lòng người khác.
Giờ Tạ Thức Kinh cũng chẳng có tâm trí để ý đến sự thất thố của thiếu niên, ánh mắt hắn đang dán c.h.ặ.t vào khuôn mặt trong lòng.
Quả nhiên Hứa Tầm chính là Hứa Sơ. Gương mặt này, hoàn toàn đúng như trong ký ức của hắn, chỉ có điều non nớt hơn, xanh hơn. Hứa Sơ trong ấn tượng của hắn luôn mặc một bộ hồng y, dung nhan diễm lệ, khóe môi luôn thấp thoáng ý cười, thản nhiên trên triều đình làm ngất xỉu cả một đám quan văn.
Hứa Tầm vẫn đang vắt óc nghĩ các công dụng của đủ loại thảo d.ư.ợ.c, nhưng cánh tay đang đặt ngang hông hắn đột nhiên siết c.h.ặ.t. Hắn mở mắt, chưa kịp làm gì thì đã bất ngờ đ.â.m vào một đôi mắt lạnh lẽo như hồ băng phủ sương, đó là cặp mắt xám xanh không thuộc về người Trung Nguyên. Điều này chưa phải quan trọng nhất, quan trọng là những cảm xúc nặng nề đang ủ trong đáy mắt ấy khiến Hứa Tầm da đầu tê dại. Hắn lập tức phản ứng, không chút khách khí chống tay vào n.g.ự.c người kia mượn lực, rút cái chân đang vắt trên tường xuống. Vừa chạm đất, Hứa Tầm liền đứng xa Tạ Thức Kinh cả mấy trượng.
Không gì khác, vẻ mặt của người này quá kỳ quái, đáng sợ vô cùng.
Hứa Tầm quan sát người vừa đến: mắt sâu mũi cao, làn da ngăm đen. Rõ ràng là dáng vẻ của người ngoại bang, nhưng lại mặc trang phục người Trung Nguyên, đầu đội mũ trâm huyền vàng, áo bào đen bình thường nhưng tà áo dưới ánh tà dương lấp lánh ánh vảy cá, hẳn là chất liệu rất quý. Như vậy có thể thấy người này hẳn là một quyền quý nào đó trong kinh thành.
Hứa Tầm suy nghĩ một lát, vẫn giả bộ nâng tay chào: "Đa tạ huynh đài vừa rồi cứu giúp."
Nhìn dáng vẻ khách khí xa lạ của Hứa Tầm, đôi mày Tạ Thức Kinh thoáng rủ xuống. Bình thường khi hắn không vui, kẻ khác cũng chẳng vui vẻ gì.
Hắn nhếch mép cười khẩy: "Giữa chúng ta, không cần khách khí như vậy."
Hứa Tầm ngẩn người: "Ừm... Huynh đài có ý gì?" Hắn nổi đầy da gà, lại lui về sau hai bước.
Lẽ ra bây giờ đã đến giờ cơm tối, mấy vị sư huynh thường ngày giám sát hắn rất c.h.ặ.t nay lại chẳng thấy bóng dáng đâu, để một mình hắn đối mặt với tên cuồng nhân có ý đồ không rõ trước mắt.
Tạ Thức Kinh thấy Hứa Tầm lui lại, ánh mắt thoáng qua vẻ hứng thú: "Lang quân không bằng đến gần, tại hạ có một thứ, nghĩ lang quân có thể sẽ muốn xem."
Hứa Tầm: "..."
Có ai tới không? Giữa ban ngày ban mặt có kẻ vô lễ đây này, ai thèm xem đồ của hắn, ai tới cứu ta với...
Tạ Thức Kinh không cho Hứa Tầm cơ hội lùi nữa, thân hình khẽ động trong chốc lát đã đến trước mặt thiếu niên. Hắn không tốn nhiều sức đã nắm lấy hai tay Hứa Tầm, cúi mắt thưởng thức dáng vẻ thiếu niên nín hơi giãy giụa đầy thú vị, rồi mới buông tay, rút tấm thánh chỉ trong tay áo ra giở trước mặt.
Hứa Tầm nín hơi, trong lòng nghĩ nếu tên cuồng nhân này dám động tay, hắn sẽ c.ắ.n đầu lưỡi, dùng m.á.u có độc của mình độc c.h.ế.t hắn!
Sau đó, tay hắn bị tên cuồng nhân buông ra. Hắn ngạc nhiên ngước nhìn, chỉ thấy một cuộn giấy màu vàng óng đặt ngang giữa hắn và tên cuồng nhân.