Trên tờ giấy màu vàng óng ấy còn viết mấy hàng chữ nhỏ, Hứa Tầm theo bản năng nghiêng đầu nhìn.

Hàng đầu viết: "Phụng Thiên Thừa Vận Hoàng Đế, chiếu viết".

Hứa Tầm nghĩ thầm: Thì ra là thánh chỉ, chẳng trách màu vàng óng. Nhưng chuyện này liên quan gì đến mình, sao lại giơ ra cho mình xem?

Mang theo thắc mắc, hắn đọc tiếp, bắt gặp danh tánh Nhiếp chính vương Tạ Thức Kinh.

Tạ Thức Kinh?

Thỉnh thoảng Hứa Tầm cũng nghe những vị khách đến chùa nhắc tới cái tên này. Nội dung phần lớn đều là mắng người nọ mặt dày vô sỉ, không biết xấu hổ, mượn tiếng thiên t.ử ra lệnh chư hầu, lòng tham không đáy.

Nhưng ấn tượng của Hứa Tầm với vị Nhiếp chính vương này vốn không tệ, bởi Huyền Cơ pháp sư hay lẩm bẩm bên tai hắn rằng: từ khi Tạ Thức Kinh này nhiếp chính, những việc khác không bàn, nhưng ít nhất các nơi hễ có thiên tai đều được khống chế kịp thời, dân lưu tán giảm hẳn, nhà chùa bớt gánh nặng không ít, các sư thúc cũng yên tâm ngồi thiền tu hành.

Hai hàng tiếp theo trong thánh chỉ đều là lời ca tụng Tạ Thức Kinh, Hứa Tầm đọc đến đấy còn gật đầu tán đồng. Không ngờ sang hàng kế lại thấy tên mình.

"Di tự cô nhi Hứa Tầm, trời sinh thông minh..." Câu này Hứa Tầm cố nhịn nhục mà nhận, nhưng câu tiếp theo có nghĩa gì?

Tú ngoại tuệ trung*?

(*) Bề ngoài thanh tú, trong lòng thông minh (thường dùng cho nữ t.ử).

Tuy Hứa Tầm bắt đầu học chữ cũng mới mấy hôm, nhưng cái từ này hắn vẫn biết. Đây chẳng phải dùng để hình dung nữ nhân sao? Liên quan mớ gì đến hắn!

Hứa Tầm nhìn chòng chọc bốn chữ đó, càng xem càng tức, tờ thánh chỉ này rốt cuộc là kẻ nào viết ra, toàn bậy bạ không ra gì!

Hắn giằng lấy thánh chỉ định vứt xuống đất, bị Tạ Thức Kinh nhanh tay ngăn lại: "Xem hết chưa?"

Quả nhiên còn hai hàng chưa đọc, Hứa Tầm chớp mắt vẻ vô tội. Nhưng nghĩ lại: ngươi có quản ta xem hay không. Huống chi ai biết thánh chỉ này thật giả thế nào. Dù chưa thấy thánh chỉ bao giờ, nhưng mép tờ giấy này còn dính bùn đất kìa, thật đúng là đồ giả không chịu nổi. Tiểu gia không thèm phụng sự.

Hắn nắm thời cơ, lướt qua Tạ Thức Kinh bỏ chạy. Nhưng mới chạy được vài bước đã bị Tạ Thức Kinh xách cổ lôi lại.

"Xem tiếp." Tạ Thức Kinh một tay xách hắn, một tay giơ cao thánh chỉ.

Hứa Tầm đầy mặt ấm ức. Lớn lên đến giờ, ngoài việc không cho xuống núi, hắn làm gì mà chẳng được người ta nâng niu chiều chuộng. Hôm nay không những lỡ rơi vào tay kẻ cắp, còn bị xách cổ bắt đọc một tờ thánh chỉ tào lao.

Hứa Tầm c.ắ.n răng, dứt khoát nhắm mắt. Nghĩ thầm: Tưởng ta sợ ngươi thật à? Ta không mở mắt, xem ngươi làm gì được ta.

Tạ Thức Kinh: ...

Hắn nhìn thiếu niên trước mắt, mặt mày sinh động, vô lại giở thói, chỉ cảm thấy thái dương lại bắt đầu nhức nhối. Tạ Thức Kinh không ngờ rằng thứ khó đối phó hơn cả vị Yêu tướng áo đỏ kiếp trước lại là tên nhóc mười lăm mười sáu tuổi nổi loạn trước mặt này.

Trong lòng Tạ Thức Kinh nghẹn một ngụm khí, tựa như người cha già trông thấy đứa con trước mặt vừa nghịch ngợm vừa chướng mắt. Hắn buông tay xách cổ thiếu niên, thuận thế giúp người ta chỉnh lại cổ áo đã bị kéo nhàu.

"Đọc hết mấy chữ cuối, bản vương thả ngươi đi."

Hứa Tầm nghe vậy thử hé một mắt, thấy Tạ Thức Kinh biểu cảm không giống đùa, mới hùng hổ nhận lại thánh chỉ, miễn cưỡng đọc mấy chữ cuối vào mắt.

Không đọc không biết, đọc rồi mới hay – Hứa Tầm càng chắc chắn tờ thánh chỉ này nhất định là đồ giả không biết từ đâu ra.

Đời nào có chuyện như vậy. Hứa Tầm nghĩ: Tiểu gia mới vừa tròn mười sáu, cách lễ đội mũ còn những bốn năm, sao có thể bị ban hôn? Mà ban hôn đối tượng lại là Nhiếp chính vương đương triều?

Những chuyện khác không bàn, trước hết – đó là một nam nhân!

Hứa Tầm tức đến đóng sầm thánh chỉ, ngước mắt, lông mày nhíu c.h.ặ.t: "Vị huynh đài này, giữa ta và ngươi vốn không thù oán, sao ngươi phải bày ra trò này để trêu chọc ta?"

Thấy Hứa Tầm tức giận, đáy mắt Tạ Thức Kinh lại dâng lên một tia ý cười.

"Bản vương không nói dối."

Hứa Tầm hừ lạnh: "Bản vương? Ngươi có phải muốn nói với ta rằng ngươi chính là Tạ Thức Kinh đó, là phu quân chưa cưới của ta?"

Tạ Thức Kinh không phủ nhận mà khẽ gật đầu.

Hứa Tầm thấy hắn thản nhiên như núi, suýt bị tức ngất tại chỗ: "Ngươi, ngươi, ngươi..."

Trên đời này sao có loại người mặt dày đến vậy? Thật đúng là vô sỉ!

Bên kia chùa, Huyền Cơ đại sư thấy hai người mãi chưa về, lo Hứa Tầm tiểu t.ử này không biết giữ lời, lỡ x.úc p.hạ.m Nhiếp chính vương gây họa lớn, vội phái đệ t.ử ngoan ngoãn nhất bên mình – Liễu Niệm – lấy cớ dùng bữa để xem tình hình hai người.

Liễu Niệm là một đệ t.ử chỉn chu, ngoan ngoãn. Thường ngày bảo làm gì làm nấy, chưa từng cãi lời hay biếng nhác, tính tình cũng như tên hắn, chẳng bao giờ nghĩ nhiều. Nhưng hắn có một nhược điểm lớn – làm việc quá cứng nhắc, không biết linh hoạt chút nào, như cây đèn dầu ẩm ướt, chọc một cái mới sáng một chút.

Vậy nên trong bầu không khí đang ngượng ngùng kia, Liễu Niệm vừa vặn có mặt.

"Cửu sư đệ, Tạ thí chủ. Huyền Cơ pháp sư mời hai vị đến Ngũ Quan Đường dùng bữa."

Hứa Tầm chẳng muốn cãi cọ với Tạ Thức Kinh thêm nữa, đang lo không tìm được cớ rời khỏi đây. Giờ đây nhị sư huynh bỗng như thần binh giáng thế, cứu hắn khỏi nước sôi lửa bỏng. Hắn chẳng suy nghĩ nhiều về lời sư huynh, chỉ hai chữ "dùng bữa" là đã chiếm trọn tâm trí.

Hứa Tầm hào hứng chạy đến, thân thiết khoác tay vị nhị sư huynh thường ngày trầm lặng, bỗng giờ phút này trở nên vô cùng thân thiện: "Nhị sư huynh! Sao huynh giờ này mới đến? Đệ đói lắm. Đệ nói cho huynh biết, người đứng đằng kia đấy, vừa rồi hắn định giở trò với đệ, còn giả mạo Nhiếp chính vương giả truyền thánh chỉ. Lát gặp sư phụ, huynh nhất định phải nói giúp đệ, sai người đ.á.n.h đuổi tên cuồng đồ đó ra khỏi cổng chùa."

Hứa Tầm sinh ra chưa đầy tám tháng đã được Hứa quốc công đưa lên chùa Thương Sơn, từ đó cùng các sư huynh ăn uống vui đùa lớn lên. Người này từ nhỏ dung mạo đã xuất chúng, nhìn qua liền khiến người ta sinh lòng yêu thích. Tuy tính tình nghịch ngợm, nhưng lại ăn nói ngọt ngào, tuổi nhỏ mà đã biết câu được lòng người, khiến các tăng nhân trong chùa từ lớn đến bé, từ già đến trẻ đều yêu quý. Thân thế lại đáng thương, ai cũng sẵn lòng nâng niu.

Vị nhị sư huynh này tuy tính tình cứng nhắc, nhưng cũng là một trong số ít người thích cưng chiều Hứa Tầm. Trước nay Hứa Tầm vốn không mấy khi thân cận với hắn, hôm nay lại là lần đầu khoác tay làm nũng. Liễu Niệm nghe mà vui mừng khôn xiết, hận không thể khiêng cả Ngũ Quan Đường đến để chăm chút cho cậu sư đệ nhỏ.

Nhưng mà – kẻ cắp ư? Liễu Niệm nổi trận lôi đình. Ai dám động đến cậu sư đệ đáng yêu nhất thiên hạ của hắn?

Liễu Niệm trợn mắt, vận nội lực đến cực hạn, chuẩn bị gặp tên kẻ cắp liền không nói hai lời, đ.á.n.h một chưởng dạy dỗ trước. Hắn theo hướng tay tiểu sư đệ chỉ phẫn nộ nhìn sang, nhưng nơi đó ngoài vị Nhiếp chính vương vẫn đứng nguyên ra, chẳng thấy bóng dáng ai khác.

Hắn đành gác nội lực xuống, kéo Hứa Tầm chắp tay tiến lên: "Điện hạ, có phải người đã thấy kẻ cắp mà tiểu sư đệ đệ nói không? Chùa chúng tôi tuyệt không cho phép loại người đó bước chân vào."

Tạ Thức Kinh cúi mắt nhìn Hứa Tầm, vẻ mặt thâm ý khó dò: "Kẻ cắp?"

Từ lúc nghe thấy hai chữ "Điện hạ" từ miệng sư huynh, Hứa Tầm đã đứng chôn chân tại chỗ. Hắn cúi mắt, nhanh ch.óng hồi tưởng lại nội dung trên thánh chỉ, đối chiếu với thân phận Tạ Thức Kinh, phút chốc đã hiểu rõ đầu đuôi.

Không hiểu thì thôi, chứ hiểu rồi, hắn không thể không chấp nhận sự thật mình sắp phải "xuất giá".

Nhưng thứ lỗi, hắn thực sự không thể chấp nhận nổi!

"A!" Hứa Tầm thét lên một tiếng, bỏ mặc sư huynh và vị hôn phu tương lai, quay người chạy thẳng ra khỏi hậu viện. Trong lúc vội vã, hắn suýt trượt tuyết ngã. Chật vật đứng vững, hắn ngoảnh lại chỉ tay vào hai người phía sau định bước tới đỡ: "Hai người không được nhúc nhích!"

Chạy khỏi hậu viện, Hứa Tầm không hề đến Ngũ Quan Đường. Trong đầu trăm mối ý nghĩ hỗn độn đổ dồn về, hắn chẳng kịp nghĩ ngợi đã lao tới một vách núi nhỏ, nơi hắn thường đến.

Vách núi tên Xuân Tuyết. Bên vách mọc một cây mộc lan gầy gò, lá chẳng nhiều, nhưng đến lúc đông xuân giao mùa sẽ bung nở những vòng hoa trắng muốt. Khi ấy hoa trắng bao trọn cả cây, chẳng thấy bóng dáng lá xanh. Nhìn từ xa, tựa như lớp tuyết cuối đông còn vương lại.

Ra đến vách núi, vầng thái dương đã lặn, ráng chiều cũng đã phai. Trời dần tối, mấy ngôi sao lẻ loi treo lơ lửng trên trời.

Hứa Tầm nép vào cây mộc lan, tìm một chỗ quen thuộc ngồi xuống. Vách núi tầm nhìn rộng mở, hắn hay ra đây ngắm cảnh, mỗi lần ngồi mấy canh giờ, vừa tâm sự với mộc lan vừa bắt sâu giúp nó. Hắn tự cho mình và cây mộc lan này có tình tri kỷ không cạn, bình thường ra sức vun trồng, rảnh là lại ra ngắm sức sống của nó.

Nhưng giờ đây mấy chiếc lá ít ỏi trên cành suýt bị Hứa Tầm tuốt sạch. Nhổ xong hắn vẫn chưa hả giận, lại xé ngang xé dọc, đến khi xé thành từng mảnh vụn mới tung lên trời thả xuống vực sâu.

Hắn cứ thế hồi lâu, một trận gió lạnh ập tới. Hứa Tầm theo bản năng kéo chiếc áo khoác ngoài, mới hay thân thể mình đã lạnh cóng cứng đờ.

Chuyện này hắn đã sớm quen. Từ sau khi trúng độc năm mười lăm tuổi, thân thể hắn vẫn luôn như thế – khí huyết ứ trệ, kinh mạch không thông, còn khó dùng hơn cái guồng nước rỉ sét trong giếng cổ.

Quen không đồng nghĩa với chấp nhận. Mười lăm tuổi trước, hắn có thể chạy nhảy, ngày ngày theo sư huynh trèo núi, bắt chim chọc khỉ. Còn bây giờ, chỉ chạy một đoạn ngắn từ chùa ra vách Xuân Tuyết thôi, hắn đã kiệt sức, thở hổn hển.

Hắn lê cánh tay tê cứng ôm mặt, tiếng khản đặc từ cổ họng: "Tại sao –"

Tại sao mấy năm nay hắn chỉ làm một kẻ phá gia chi t.ử không biết một chữ, cũng bị người hạ độc đe dọa tính mạng?

Tại sao khi thân thể dần hồi phục, triều đình cũng nới lỏng giám sát, lại tự dưng có tờ thánh chỉ tào lao bắt hắn làm "tân lang xuất giá", đến một cái l.ồ.ng khác?

Tại sao hắn không tranh, không chống, an phận thủ thường, không trái ý bất cứ điều gì, mà vẫn bị cái gọi là vận mệnh kia đẩy đến đường cùng?

Không ai đáp lời. Trời đất chỉ còn gió thanh trăng sáng, hương mộc lan phảng phất.

Thiếu niên mười sáu ngồi trên vách cao khóc nức nở. Nước mắt lăn dài trên da, gió lạnh thừa cơ thấm vào. Chẳng mấy chốc, làn da mỏng manh đã nứt nẻ thành từng vệt. Càng khóc, vết nứt càng nhiều, m.á.u bắt đầu rỉ ra từng dòng.

Hứa Tầm thẫn thờ cảm nhận cơn đau rát trên mặt.

Vốn hắn rất sợ đau. Ngày thường chỉ va quẹt nhẹ cũng kêu la t.h.ả.m thiết, ầm ĩ khắp chùa, như muốn ai ai cũng phải biết, ai cũng phải lo lắng cho nỗi đau của hắn.

Nhưng bây giờ, hắn bỗng không còn sợ đau nữa. Ngồi trong gió lạnh, mặt mũi bê bết m.á.u, hắn bỗng rùng mình trước vực thẳm tối tăm kia.

Ít nhất vào lúc này, Hứa Tầm sợ hơn cả là tương lai đen kịt không chút ánh sáng kia.