Đến ngày lễ tết, nhà mẹ đẻ gửi trái cây và vải vóc mới sang, nàng cũng không quên giữ lại cho ta một phần.
Vì vậy, đến khi lão gia thi cử trở về, nhìn thấy ta đã trắng trẻo, khỏe mạnh, chẳng khác gì người chưa từng sinh nở, hắn sững sờ đến mức nắm c.h.ặ.t t.a.y phu nhân, vẻ mặt áy náy, hồi lâu chẳng nói được lời nào.
Ừm...
Ta vốn đã quen nhìn cảnh người ta tranh đấu, lừa lọc lẫn nhau.
Vì thế, ta lại bắt đầu nghi ngờ.
Ta nghĩ có lẽ phu nhân đang tính một nước cờ khác, muốn mượn tay người khác để đối phó với ta.
Thế là ta nghiến răng sinh thêm một đứa con trai.
Nhưng đứa trẻ ấy lại bị mẹ chồng cứng rắn giành về nuôi.
Đúng lúc ta đang rơi nước mắt, phu nhân nhân cơ hội ấy thuyết phục cả nhà, bỏ tiền đến phủ nha xóa bỏ thân phận tiện dân của ta, còn tổ chức hẳn một buổi lễ nạp thiếp đàng hoàng.
Từ đó trở đi, ngay cả người trong Tống gia cũng không thể tùy tiện bán ta đi nữa.
Ta mừng đến mức muốn dập đầu tạ ơn phu nhân.
Nhưng nàng không cho ta quỳ.
Nàng vẫn dịu dàng như mọi ngày, chỉ căn dặn ta phải tận tâm hầu hạ lão gia và cha mẹ chồng.
Ta cũng chẳng biết nên gọi mối quan hệ giữa chúng ta là gì.
Về sau, lão gia từng nói với ta một câu rất nhã nhặn:
"Quan hệ giữa người quân t.ử vốn thanh đạm như nước."
Có lẽ ta và phu nhân chính là kiểu giao tình như vậy.
Nàng đối xử với ta luôn khách khí, không ghen tuông, cũng chẳng chua ngoa, bình thản nuôi dưỡng con của ta.
Còn ta thì một lòng kính trọng nàng, không dò hỏi, không quấy rầy, an phận làm một người thiếp của Tống gia.
Trong cả phủ Tống gia, chỉ có một chuyện khiến ta buồn.
Đó là lão phu nhân từ đầu đến cuối vẫn chưa từng nhìn ta bằng ánh mắt dễ chịu.
Mãi cho đến ngày Triệu Vương tạo phản...
Năm đó, ta hai mươi bảy tuổi, còn phu nhân đã ba mươi hai.
Tang kỳ của Tống lão gia vừa kết thúc.
Lão gia giữ trọn thời gian để tang, sau đó thay y phục chỉnh tề, sáng sớm đã vào nha môn điểm danh.
Trong phủ chỉ còn ba nữ nhân chúng ta.
Hai đứa trẻ cũng được dẫn theo, mọi người như thường lệ ngồi phía sau cánh cửa, cúi đầu may vá.
Bỗng nhiên, bên ngoài vang lên tiếng c.h.é.m g.i.ế.c rung trời.
Phu nhân lập tức sai người ra ngoài dò hỏi tình hình.
Tên tiểu đồng chạy về, sợ đến mức một chiếc giày cũng rơi mất, vừa thở dốc vừa nói:
"Lão phu nhân, phu nhân, di nương... xảy ra chuyện lớn rồi!"
"Quân phản loạn của Triệu Vương đã đ.á.n.h vào thành!"
Khi ấy, chúng ta đang sống ở Nhữ Châu, một thành trì lớn nằm phía Bắc sông, từ xưa đã là nơi binh gia tranh đoạt.
Phu nhân vốn luôn bình tĩnh, tháo vát, trên người lại có khí chất của một nữ nhân xuất thân danh gia.
Nhưng dù sao nàng cũng chưa từng bước chân ra khỏi khuê môn.
Gặp phải biến cố kinh thiên động địa như vậy, sắc mặt nàng lập tức trắng bệch, sợ đến mức gần như đứng không vững.
Lão phu nhân cũng chẳng khá hơn.
Hai người mỗi người ôm một đứa con của ta, nhìn nhau hoảng loạn, hoàn toàn không biết phải làm gì.
Đáng sợ hơn là chúng ta còn chưa kịp hoàn hồn, cổng viện đã bị vó ngựa của quân phản loạn đạp tung.
Người dẫn đầu là một phó tướng dưới trướng Triệu Vương.
Hắn vẫn giữ vẻ khách khí, nói rằng muốn đưa "phu nhân của Tống Dực" đi.
Tống Dực chính là tên của lão gia.
Chúng ta lập tức hiểu ý đồ của bọn chúng.
Chúng muốn bắt phu nhân làm con tin, ép quan viên trong thành không dám chống cự, từ đó giao quyền kiểm soát Nhữ Châu.
Đây là lần đầu tiên ta nhìn thấy phu nhân hoảng sợ đến mức ấy.
Cả sân im phăng phắc.
Yên tĩnh đến mức dường như một cây kim rơi xuống đất cũng có thể nghe thấy.
Tên phó tướng đưa đôi mắt sắc bén như chim ưng nhìn lượt qua ba người chúng ta.
Lão phu nhân tóc đã bạc trắng, hiển nhiên không thể là "phu nhân".
Phu nhân tuy là chính thất, nhưng thường ngày luôn giữ vẻ đoan trang của một tiểu thư khuê các, không đeo quá nhiều trang sức, trên đầu cũng chẳng cắm kín trâm như một con nhím.
Còn ta tuy chỉ là thiếp, nhưng nhờ phu nhân rộng rãi, lại thêm bản thân vốn thích ăn diện, nên trên người lúc nào cũng lấp lánh châu ngọc, quả thực rất dễ lọt vào mắt người khác.
Trong khoảnh khắc ấy, đầu óc ta xoay chuyển rất nhanh.
Nếu phu nhân bị bắt đi, chẳng may nàng thật sự mất mạng, lão gia nhất định sẽ cưới một thê t.ử khác.
Người mới đến chưa chắc đã hiền lành được như nàng.
Đến khi đó, kế mẫu muốn hành hạ c.h.ế.t hai đứa con của ta, chỉ sợ ta cũng chẳng thể bảo vệ nổi chúng.
Chi bằng để ta đi.
Thân phận của ta thấp kém, nếu c.h.ế.t cũng chẳng ảnh hưởng đến ai.
Nghĩ đến đây, ta đứng dậy, nói với tên phó tướng:
"Được, ta sẽ đi theo các ngươi."
"Xin các ngươi đừng làm hại nữ quyến và trẻ nhỏ trong phủ."
Ta cả đời này cũng chẳng thể quên vẻ mặt của lão phu nhân và phu nhân khi ấy.
Hai người giống như vừa bị sét đ.á.n.h trúng, bốn con mắt mở tròn, còn lớn hơn cả những chiếc đèn l.ồ.ng.
Về sau, mỗi lần nhớ lại cảnh tượng ấy, ta vẫn thấy buồn cười.
Chuyện xảy ra sau đó lại đơn giản hơn ta tưởng.
Ta đi theo tên phó tướng ra khỏi cửa.
Nhưng mới đến cổng phủ nha, quân tiếp viện đã chạy tới.
Sau một trận c.h.é.m g.i.ế.c hỗn loạn, ta không những bình an vô sự mà còn cứu được lão gia đang bị thương, nửa dìu nửa kéo hắn trở về phủ.
Sự thật chứng minh, may mà người đi theo bọn chúng là ta.
Ta khỏe mạnh, lại có chút sức lực.
Nếu người bị bắt đi là phu nhân, với thân thể yếu ớt mảnh mai của nàng, e rằng vết thương lớn trên người lão gia chưa kịp được đưa về nhà, hắn đã mất m.á.u mà c.h.ế.t.
Dẫu vậy, lão gia vẫn phải nằm trên giường tĩnh dưỡng suốt ba tháng mới hoàn toàn hồi phục.
Thật ra, ta cũng chẳng cảm thấy mình đã lập được công lao gì lớn.
Những năm tháng lăn lộn trong thanh lâu đã khiến ta sớm chai lì với chuyện sống c.h.ế.t.
Ta chỉ biết một điều.
Còn sống thì vẫn tốt hơn c.h.ế.t.
Nhưng lão phu nhân và phu nhân lại không nghĩ như vậy.