Hai người gần như muốn nâng ta lên tận trời.
Họ còn căn dặn đám người hầu từ nay không được gọi ta là "di nương", mà phải gọi là "Nhị phu nhân".
Về ăn mặc, đồ dùng, phu nhân có thứ gì thì ta cũng có thứ ấy.
Lão phu nhân thậm chí còn định giao người con trai thứ hai cho ta nuôi.
Ta vội vàng xua tay từ chối.
Hai người họ đều là tiểu thư khuê các, còn ta đến chữ nghĩa cũng mù tịt, chẳng biết đọc nổi một chữ.
Nếu là nữ nhi, ta còn có thể dạy con may vá.
Nhưng đem nhi t.ử giao cho ta nuôi, chẳng khác nào làm hỏng cả tương lai của nó.
Thật ra, ta chẳng thấy lời mình nói có gì nghiêm trọng.
Vậy mà lúc ấy lão phu nhân lại bật khóc nức nở.
Bà nói mình đã già rồi, vậy mà đôi mắt còn kém hơn cả phu nhân.
Ban đầu bà đã nhìn lầm, cứ tưởng ta là loại nữ nhân lẳng lơ, chuyên quyến rũ nam nhân.
Cứ như thế, ta chẳng hiểu bằng cách nào lại gột bỏ được cái tiếng "hồ ly tinh" ấy.
Về sau, mỗi khi lão phu nhân ra ngoài, dù không đưa phu nhân đi cùng, bà nhất định cũng phải dẫn ta theo bên cạnh.
Phu nhân chẳng những không tức giận mà còn kiên nhẫn dạy ta đủ loại lễ nghi, phép tắc.
Sau này ta mới biết, vào thời điểm ấy, sức khỏe của phu nhân đã ngày một sa sút.
Bởi vậy, khi lão phu nhân sống đến tám mươi tuổi rồi qua đời, lời cuối cùng bà để lại cho lão gia là:
"Về sau, nếu Hoàn không có phúc phận mà đi theo ta, con hãy nâng địa vị cho đứa nhỏ Tinh Nhi."
"Đó là một đứa trẻ ngoan."
Ban đầu ta vốn không định khóc.
Nhưng...
Lão phu nhân lại gọi ta là "con".
Tài sản riêng lão phu nhân để lại thực ra chẳng còn bao nhiêu.
Phần lớn đều đã được nhập vào Tống gia.
Thứ duy nhất bà để riêng cho phu nhân là một chiếc hộp gỗ đàn khảm trai vẽ vàng.
Ta cứ cảm thấy chiếc hộp ấy dường như mang theo chút điềm chẳng lành.
Bởi chẳng bao lâu sau khi phu nhân nhận nó, nàng liền mang thai.
Năm đó, nàng bốn mươi tuổi, còn ta ba mươi lăm.
Cả hai đều chẳng còn trẻ nữa.
Ta sợ mất mạng nên từ lâu đã lén uống t.h.u.ố.c tránh thai.
Thế nhưng lão gia, nhà mẹ đẻ của phu nhân, thậm chí chính bản thân nàng đều vui mừng khôn xiết.
Ta cũng chỉ có thể cùng họ vui vẻ, đồng thời càng cẩn thận, dè dặt hầu hạ chủ mẫu.
Nhưng trong lòng ta lại vô cùng mâu thuẫn.
Một mặt, ta mong nàng có thể bình an sinh con, tiếp tục che chở cho mẫu t.ử chúng ta.
Mặt khác, ta lại âm thầm hy vọng nàng chỉ sinh một nữ nhi.
Bởi nếu nàng có con ruột, ai biết được sau khi trở thành mẫu thân, nàng có thay đổi hay không.
Trong nỗi bất an ấy, phu nhân lại bất ngờ sinh non.
Nàng đau đớn gào thét suốt ba ngày ba đêm.
Đến cuối cùng, cổ họng nàng đã khàn đặc, ngay cả tiếng kêu cũng không thể phát ra.
Dốc hết sức lực, đứa trẻ vẫn chỉ mới ló được nửa cái đầu.
Thái y nói rằng phu nhân đã không còn khả năng cứu chữa.
Nếu muốn giữ mạng đứa trẻ, chỉ còn cách m.ổ b.ụ.n.g lấy con ra.
Lão gia cùng người nhà mẹ đẻ của phu nhân bàn bạc hồi lâu, cuối cùng cũng gật đầu.
Phu nhân xem như may mắn.
Ngay lúc thái y dùng rượu mạnh khử trùng con d.a.o, nàng đã trút hơi thở cuối cùng.
Trước khi qua đời, nàng đưa chiếc hộp gỗ đàn khảm trai vẽ vàng ấy cho ta.
Sau đó, nàng nắm lấy tay lão gia, nói những lời giống hệt lời lão phu nhân năm xưa:
"Sau khi thiếp qua đời, chàng hãy nâng địa vị cho Tinh Nhi."
"Ngàn vạn lần, ngàn vạn lần đừng cưới thêm nữ nhân nào khác."
Tất cả mọi người đều nhìn về phía lão gia, chờ hắn gật đầu.
Bao nhiêu năm qua, ai cũng nhìn thấy rõ phu nhân và lão phu nhân tín nhiệm ta đến mức nào.
Ta là Nhị phu nhân có thể diện nhất trong phủ.
Mỗi khi sức khỏe phu nhân không tốt, phần lớn việc lớn nhỏ trong nhà đều do ta thay nàng quán xuyến.
Huống hồ, ta còn từng cứu mạng lão gia.
Lão gia cũng từng hứa với lão phu nhân đang nằm trên giường bệnh những lời tương tự.
Nhưng ngay khoảnh khắc ấy, trước vô số ánh mắt đang chờ đợi, lão gia lại...
Do dự trong chốc lát.
Sau đó, hắn chỉ ậm ừ đáp qua loa:
"Ừm... chuyện này để sau rồi tính."
Phu nhân qua đời, tang lễ được tổ chức long trọng, linh đình.
Nhưng người sống vẫn phải tiếp tục sống.
Nước một ngày không thể không có vua, nhà một ngày cũng chẳng thể thiếu chủ mẫu.
Ta bắt đầu học theo dáng vẻ của phu nhân.
Ta không còn cài kín đầu bằng những món trang sức lấp lánh, y phục cũng không thêu thùa quá mức, từng lời nói cử chỉ đều cố giữ sự đoan trang, không phô trương, không gây ồn ào.
Ai cũng bảo ta học giống nàng đến mức nhìn từ phía sau còn tưởng phu nhân vẫn chưa qua đời.
Ta thầm nghĩ, nếu sau này được nâng lên làm chính thất, ta vẫn muốn để người hầu gọi mình là "Nhị phu nhân".
Ta đã quen với cách xưng hô ấy rồi.
Hơn nữa, trong lòng ta vẫn luôn cho rằng phu nhân mãi mãi là phu nhân của ta.
Dù nàng đã khuất, nàng vẫn là chủ mẫu mà ta kính trọng.
Nhưng ta còn chưa kịp nói chuyện ấy với lão gia, hắn đã tuyên bố rằng mình tìm được người kế thất.
Đó là Nhị tiểu thư nhà Chỉ huy sứ ở phía đông thành.
Nàng dung mạo xinh đẹp như tiên nữ, tính tình kiêu kỳ, chẳng ai sánh nổi, năm nay mới vừa tròn mười tám tuổi, đúng kiểu tiểu thư khuê các danh giá.
Ta biết nàng.
Không phải vì từng gặp mặt, mà bởi trong thành đã sớm có không ít lời đồn về nàng.
Nghe nói nàng từng đính hôn với một nho sinh.
Sau này, người nho sinh kia thi đỗ cử nhân, được một nhà quyền quý chọn làm con rể, liền chủ động hủy hôn với nàng.
Nàng tức giận thề rằng nhất định phải gả cho một người còn hơn cả cử nhân, phải là tiến sĩ đã làm quan.
Mà lão gia vừa hay lại đáp ứng đủ mọi điều kiện ấy.
Chỉ có điều, tuổi hắn đã gấp đôi nàng.
Ta im lặng.
Tiểu thư xuất thân danh giá, đương nhiên có thể diện hơn một người từng sống trong lầu xanh như ta.
Một mỹ nhân mười tám tuổi cũng đương nhiên khiến người ta mê mẩn hơn một nữ nhân ba mươi lăm tuổi đã bắt đầu tàn phai nhan sắc.
Nhưng điều khiến ta không thể cam lòng nhất là phu nhân mới qua đời chưa đầy một tháng, vậy mà lão gia đã vội vàng tìm người thay thế đến mức dường như chẳng thể chờ thêm.
Phản đối đương nhiên chẳng có tác dụng.