Thạch Kiều Quan là trấn biên ải, dân chúng tính tình hào sảng, nữ nhân buôn bán ngoài phố chẳng có gì hiếm lạ.
Ta thuê một căn nhà cũ có sân nhỏ, mua gạo, ngũ cốc, men rượu và hai vò sành thô, số tiền còn lại cất kỹ để dành cho Đoàn ca nhi học hành.
Vò rượu đầu tiên ta ủ theo khẩu vị người Trường An, vừa nồng vừa gắt.
Ta ngồi bên sạp rao bán suốt bảy ngày, khản cả giọng mà chẳng bán nổi một bình.
Không có cửa hiệu, ta kê tấm ván gỗ thô lên xe đẩy, ngày nào trời chưa sáng cũng đẩy tới đầu phố.
Vò rượu quá nặng, bánh xe thường mắc vào kẽ đá, Liễu tẩu phải giúp ta nhấc xe từ phía sau, còn Đoàn ca nhi nhặt những sợi dây rơm rơi bên cạnh.
Chúng ta xoay xở suốt nửa ngày, đổi lại vẫn là cả ngày không ai đoái hoài.
Chiều ngày thứ bảy, ta nhìn những vò rượu đầy mà buồn rầu, lão già gầy gò bán quẻ bên cạnh chợt bắt chuyện: “Cô nương, xem một quẻ không?”
Ta chẳng buồn ngẩng đầu: “Không xem.”
Thuở nhỏ, ta từng dùng hai năm tiền công để tìm cha mẹ, kết quả bị một gã giang hồ lừa sạch.
Từ đó về sau, bọn bắt cóc và thầy bói đều khiến ta chán ghét như nhau.
Thế mà lão già vẫn nhìn vò rượu cười: “Cô nương.”
Ta cứ tiếp tục thu dọn sạp.
Lão lại nói: “Cô từ kinh thành tới phải không?”
Ta đột ngột ngẩng đầu: “Sao ông biết?”
Sở Bán Tiên vuốt râu, thong thả đáp: “Đương nhiên là ta bói ra.”
Ta sa sầm mặt định bỏ đi, lão lại thêm một câu phía sau: “Vò rượu này của cô e rằng đến một bát cũng chưa bán được nhỉ?”
Ta dừng bước.
“Cho ta một bình làm tiền xem quẻ, ta sẽ xem thử đường tài lộc cho cô.”
Dù sao cũng chẳng bán được, ta bèn múc một bình đưa lão, cảnh cáo đừng ăn nói bừa bãi, bằng không ta nhất quyết không công nhận quẻ ấy.
Lão nhấp một ngụm, nheo mắt tấm tắc hồi lâu: “Rượu ngon.”
Ta đợi lão nói tiếp.
“Nhưng nơi này nắng gắt, người lao động vất vả cả ngày chỉ muốn uống thứ gì êm cổ.”
“Cô đem rượu mạnh của kinh thành đến đây, ai lại muốn uống thứ rượu bỏng rát cổ họng này?”
Lão đẩy bình về phía ta: “Rượu không sai, chỉ là cô chọn nhầm nơi bán.”
Ta đứng sững tại chỗ, chuyện nghĩ suốt bảy ngày chưa thông đã được lão nói mấy câu mà sáng tỏ.
Đêm ấy, ta trằn trọc mãi không ngủ.
Từ hôm sau, ta bắt đầu giảm độ nồng của rượu, nhưng hai vò đầu đều hỏng vì chua.
Nếm thử, ta liền biết mình đã cho men sớm mất nửa ngày.
Liễu tẩu khuyên: “Nghỉ một đêm rồi thử tiếp, quầng mắt cô thâm cả rồi.”
Ta lắc đầu: “Độ lửa không qua mặt được đầu lưỡi.”
“Hôm nay sai ở đâu, hôm nay phải tìm ra.”
Ta viết lượng men của ba cách pha bên cạnh bếp, vò nào cho men lúc nào, mở nắp khi nào đều dùng b/út than ghi rõ.
Rượu hỏng ta cũng không đổ, ngày nào cũng nếm một chút để nhớ vị chua bắt đầu từ đâu.
Đến lần mở vò thứ ba, mùi rượu nồng xộc mũi cuối cùng cũng dịu xuống, thay vào đó là hương mận ngọt thanh.
Mận xanh trong núi vừa đúng mùa chín, ta lại ngâm thêm mấy vò rượu mận.
Liễu tẩu làm đồ may vá kiếm thêm tiền chi tiêu, Đoàn ca nhi ngồi xổm bên vò rượu, chun mũi hỏi: “Dì, rượu này có ngọt không?”
“Trẻ con không được uống rượu.”
“Con chỉ ngửi một chút thôi.”
Thằng bé ghé sát mặt lại, lập tức hắt hơi một tiếng thật to.
Liễu tẩu cười đến mức cầm kim không vững.
Hôm rượu mới ra vò, ta lại đẩy xe ra phố dài.
Lần này, ta để khách nếm thử rồi mới mua.
Người đ/á/n/h xe vừa nhấp ngụm đầu tiên đã mừng rỡ khen: “Loại này ngon đấy, vào miệng êm dịu, lát sau mới thấy men rượu.”
Hắn mua hai bình, tiện đường rao hộ ta suốt nửa con phố: “Rượu mới của t/ửu nương đây, nếm thử rồi hãy mua!”
Đồng tiền đồng đầu tiên rơi vào hộp, ta lấy than đ/á/n/h dấu lên mép đồng tiền.
Đây chính là đồng tiền đầu tiên Khương Tiểu Mãn ta kiếm được ở Thạch Kiều Quan.
Đồng tiền ấy rất nhẹ, vậy mà rơi vào hộp gỗ lại vang lên rõ mồn một.
Về nhà, ta đổ nó ra ngắm đi ngắm lại mấy lần, chỉ sợ vết than bị mài mất.
Liễu tẩu cười ta như chưa từng thấy tiền, ta cũng không giải thích.
Đó là lần đầu tiên kể từ khi đến trấn biên ải, chúng ta không phải dùng đến ngân phiếu đại tiểu thư để lại.
Sau khi dọn sạp, ta để một bình rượu trên bàn của Sở Bán Tiên.
Hôm sau lão không xuất hiện, đến ngày thứ ba, cả lá cờ xem quẻ cũng biến mất.
Ta hỏi chủ sạp bên cạnh lão già đã dọn đi đâu.
Người ấy lắc đầu: “Ai mà biết được, chân thầy bói có bao giờ mọc rễ đâu.”
Nửa tháng sau, rượu hoa quế cũng ủ xong, khách quen dẫn thêm khách mới, người trên phố bắt đầu gọi ta là t/ửu nương.
Có người khuyên: “Đem rượu đến Quy Hồng Lâu đi, một bình có thể bán bằng giá ba bình hiện giờ đấy.”
Ta chỉ muốn chăm lo cho Liễu tẩu và Đoàn ca nhi, nên lắc đầu cảm tạ rồi từ chối.
Cuộc sống vừa có chút ngọt ngào, trong thành bỗng đông nghịt người đi xem náo nhiệt.
Có kẻ vừa chạy từ đầu phố vừa hô: “Đoàn t/ù lưu đày vào thành rồi, chính là cả nhà trong vụ án Thái t/ử đấy!”
Ta bế thốc Đoàn ca nhi lên, kéo Liễu tẩu chạy về phía cổng thành.
Giữa đoàn người, đại tiểu thư gầy đến mức gần như chẳng còn hình người.
Mặt nàng sạm nắng, môi nứt nẻ, nhưng sống lưng vẫn thẳng tắp.
Đoàn ca nhi vùng vẫy trong lòng ta, gào khóc: “Mẫu thân!”
Ta lập tức bịt miệng thằng bé.
Trong danh sách phạm nhân của quan phủ không có tên đứa trẻ này, một khi có kẻ nhớ tới nó, sẽ chẳng ai bảo vệ nổi.
Nhưng đại tiểu thư vẫn nghe thấy.
Nàng ngoắt đầu lại, nhìn thấy chúng ta cách một biển người, không dám mở miệng mà nước mắt đã rơi.