“Năm ấy bác sĩ chẩn đoán mẹ u/n/g t/h/ư dạ dày.
Sau khi rời nhà, mẹ tới nơi khác kiểm tra lại mới biết chỉ là loét dạ dày.
Lúc đó mẹ và bố các con đã ly hôn, mẹ vừa nhẹ nhõm vừa hoang mang, không biết quay về rồi mọi người có còn muốn nhận mẹ nữa không.”
Bà ngẩng lên nhìn Chu Minh Viễn, giọng run nhẹ:
“Sau khi bình tâm lại, mẹ từng viết thư về, nói rõ bệnh không phải u/n/g t/h/ư và hỏi bố con nếu còn muốn mẹ trở về thì hãy hồi âm.
Nhưng mẹ chờ mãi không nhận được tin.
Bao nhiêu năm nay mẹ sống ở nơi khác.
Gần đây mẹ tình cờ gặp một người cùng làng cũ, nghe nói bố con bệnh nặng nên hỏi thăm từng người mới tìm được địa chỉ này.”
Tôi quay đầu nhìn về phía phòng ngủ.
Không biết bố chồng đã ngồi dậy từ lúc nào.
Đôi mắt vốn đục ngầu bỗng sáng lên.
“Tú Lan…”
Ông gọi một tiếng.
Nước mắt bà cụ lập tức trào ra.
Tối hôm ấy, bữa cơm đoàn viên nhà chúng tôi từ bốn người thành năm người.
Mẹ chồng ngồi cạnh giường, từng miếng từng miếng đút sủi cảo cho ông.
Bố chồng ngoan ngoãn há miệng như một đứa trẻ, mắt không rời khỏi mặt bà.
“Tú Lan, em gầy rồi.”
“Ông thì béo hơn.”
“Xem ra Hiểu Tĩnh chăm ông rất tốt.”
“Hiểu Tĩnh là đứa trẻ tốt.”
Bố chồng vừa nói, nước mắt lại rơi.
Chu Minh Viễn và Chu Minh Lệ đứng ngoài cửa, không ai bước vào.
Chu Minh Lệ khẽ nói:
“Anh còn nhớ không?”
“Hồi nhỏ ngày mẹ đi, anh ôm em khóc cả đêm.”
Chu Minh Viễn không nói, chỉ ôm vai em gái.
Tôi đứng trong bếp nhìn họ qua khe cửa.
Sủi cảo trong nồi sôi ùng ục.
Hơi nước làm mờ tầm mắt.
Tôi nhớ tới rất nhiều năm trước, buổi chiều lần đầu gặp bố chồng.
Ông đứng trước cổng sân, cười đưa tôi một bao lì xì.
“Sau này đều là người một nhà.”
Lúc đó tôi nghĩ “người một nhà” chỉ là câu khách sáo.
Bây giờ tôi mới hiểu.
Người một nhà là từng trở mặt, từng đỏ mắt, từng tính toán, từng tổn thương nhau, nhưng cuối cùng vẫn có thể ngồi lại bên một bàn cơm.
Ngoài cửa sổ lại vang lên tiếng pháo.
Năm mới tới.
Tôi bưng đĩa sủi cảo cuối cùng vào.
Năm người ngồi quanh bàn.
Bố chồng và mẹ chồng ngồi giữa.
Tôi và Chu Minh Viễn ngồi một bên.
Chu Minh Lệ ngồi bên kia.
“Nào.”
Bố chồng nâng ly.
Tay run dữ dội nhưng mắt sáng lạ thường.
“Năm mới rồi.”
“Người một nhà chúng ta uống một ly.”
“Cạn ly.”
Năm chiếc cốc chạm nhau.
Pháo hoa ngoài trời bùng nổ, chiếu sáng cả bầu trời.
“Hiểu Tĩnh.”
Bố chồng gọi tôi.
“Bố?”
“800.000 tệ đó…”
“Bố.”
Tôi cười.
“Đầu năm đầu tháng, đừng nhắc tiền nữa.”
Ông cũng cười.
“Được.”
“Không nhắc.”
Ông dừng lại.
“Vậy bố nói câu khác.”
“Bố nói đi.”
“Cảm ơn con.”
Tôi nâng cốc.
“Không cần cảm ơn, bố.”
Năm ấy, cuối cùng người một nhà chúng tôi cũng thật sự ở cùng một mái nhà, trải qua một cái Tết đoàn viên đúng nghĩa.
Không còn tính toán, không còn ngăn cách, cũng không còn những món nợ cũ nói mãi không rõ; trong căn nhà chỉ còn mùi sủi cảo thơm và tiếng cười.
Ngày hôm sau, tôi mới có cơ hội ngồi riêng với mẹ chồng.
“Mẹ, những năm qua mẹ sống ở đâu?”
Bà cầm chén trà, im lặng một lúc rồi kể.
“Sau khi rời nhà, mẹ lên tỉnh thành.”
“Ban đầu rửa bát trong nhà hàng.”
“Sau đó xuống miền Nam làm trong xưởng may.”
“Tuổi cao rồi thì trở lại huyện bên cạnh, trông trẻ thuê.”
“Tại sao mẹ không về?”
“Năm ấy sau khi chẩn đoán lại, mẹ từng viết một lá thư.
Mẹ nói bệnh không phải u/n/g t/h/ư, chỉ là loét dạ dày; nếu ông ấy còn muốn mẹ trở về thì chỉ cần hồi âm một câu.”
“Nhưng mẹ không nhận được hồi âm.”
“Tối qua, lúc tỉnh táo, ông ấy mới thú nhận với mẹ rằng năm đó ông đã nhận được thư, chỉ là không trả lời, cũng không nói chuyện ấy với Minh Viễn và Minh Lệ.”
“Tại sao?”
“Ông ấy sợ mẹ quay về rồi lại phải chịu khổ, lại sợ hai đứa nhỏ biết mẹ còn sống sẽ chạy đi tìm mẹ, khiến mọi chuyện càng rối.
Ông ấy cứ tưởng để mẹ có một cuộc đời khác mới là cách tốt nhất.”
Bà cười khổ, trong mắt vừa trách vừa thương.
“Ông ấy ngốc.
Cả đời cứ tưởng tự mình quyết định thay người mình thương là đang tốt cho họ.”
“Vậy mẹ có từng hận ông không?”
“Có.”
“Hồi trẻ từng hận.”
“Sau này thì không.”
“Bởi mẹ biết năm ấy ông ấy đòi ly hôn cũng chỉ vì sợ tiền chữa bệnh kéo sập cả nhà.”
“Khi ấy Minh Viễn vừa thi đỗ đại học.”
“Minh Lệ còn đang đi học.”
“Nhà quá nghèo.”
“Ông ấy không có lựa chọn nào tốt hơn trong đầu.”
Bà nhìn vào phòng ngủ.
“Ông ấy sai rất nhiều.”
“Nhưng tấm lòng với cái nhà này chưa từng giả.”
Sức khỏe bố chồng ngày một kém.
Sau mùa xuân, ông gần như không thể tự trở mình.
Có lúc ông tỉnh táo, có lúc lại hồ đồ đến mức chẳng nhận ra người trước mặt.
Khi tỉnh, ông luôn gọi tên Tú Lan.
Khi hồ đồ, ông nhìn trần nhà, chẳng nhận ra ai.
Mẹ chồng không rời ông nửa bước.
Ban ngày mẹ chồng lau người, đút cơm cho ông; tối đến bà ngủ ngay trên chiếc giường xếp cạnh bên, gần như không rời nửa bước.
Tôi bảo bà nghỉ.
Bà chỉ lắc đầu.
“Mẹ đã xa ông ấy quá lâu rồi.
Quãng đời còn lại, mẹ muốn ở cạnh ông ấy.”
Một đêm, bố chồng đột nhiên tỉnh táo khác thường.
Ông nắm tay mẹ chồng.
“Tú Lan, lá thư ấy anh đã đọc.”
“Đọc một lần khóc một lần.”
“Nhưng anh không dám tìm em.”
“Anh sợ em quay về lại chịu khổ.”
Mẹ chồng vuốt mặt ông.
“Ông ngốc.”
“Anh biết.”
“Anh nợ em.”
“Không nợ.”
Bà nói.
“Ông nuôi hai đứa con lớn.”
“Chống đỡ căn nhà này suốt bao nhiêu năm.”
“Ông đã trả đủ rồi.”
Bố chồng cười.
Sau đó nhìn tôi.
“Hiểu Tĩnh, con lại đây.”
Tôi bước tới.
Ông kéo tay tôi, kéo cả tay mẹ chồng, đặt lên nhau.