Đúng lúc ấy, Tạ thúc dẫn gia đinh quay lại và nghe trọn lời ta.
Ông đã bắt được cả hai tên trộm, nhưng vừa trông thấy ta thì lại xúc động đến rơi nước mắt.
“Thiếu phu nhân…” ông nghẹn ngào gọi.
Ta nhìn hai tên bị trói phía sau, dặn: “Đợi trời sáng hãy đưa chúng đến quan phủ báo án.”
Thấy chúng nhìn ta căm tức, ta còn tươi cười bảo: “Đừng lo, vào ngục rồi các ngươi vẫn có cơm ăn.”
Ta vừa định quay về nghỉ thì Tạ thúc gọi giật lại.
“Sao vậy thúc?”
Vừa quay người, ta đã thấy ông quỳ xuống, toàn bộ gia nhân chung quanh cũng đồng loạt quỳ theo.
Tạ thúc nghẹn ngào: “Thiếu phu nhân phải gả vào một nơi chẳng khác nào hố lửa, vậy mà vẫn coi đám người thô kệch chúng ta như thân nhân.”
“Chúng ta thật không biết phải…”
Ta vội cúi xuống đỡ ông: “Mọi người làm gì thế, mau đứng dậy đi!”
“Đáng ra ta phải cảm ơn mọi người mới đúng, nếu không được đối đãi t/ử tế thế này, có lẽ ta đã sợ đến c/h/ế/t khiếp từ lâu rồi!”
Sống trong phủ càng lâu, ta càng hiểu sự ấm áp của Tạ gia không nằm ở lời nói.
Nó hiện diện trong cách người ta nhường nhịn, nâng đỡ và chăm nom nhau qua những điều nhỏ nhặt nhất.
Chỉ tiếc, bên dưới nếp nhà thuận hòa ấy vẫn luôn có một nỗi buồn âm thầm chẳng thể xóa đi.
Sau khi dàn xếp xong mọi việc, ta trở về phòng chuẩn bị ngủ.
Nhưng vừa nằm xuống, ta lại nhận ra mình chẳng còn chút buồn ngủ nào.
Một đêm náo loạn khiến đầu óc ta tỉnh táo lạ thường.
Nghĩ bụng đã làm thì làm cho trót, ta đợi phủ yên tĩnh rồi lại cầm đèn l/ồ/ng đi về phía từ đường.
Lần gần nhất ta đứng trước những bài vị ấy chính là hôm thành hôn.
Ta ngẩng lên nhìn lần lượt từng hàng, cuối cùng tìm được ba chữ Tạ Lâm Sanh khắc trên một bài vị mới hơn những tấm còn lại.
Ta lấy khăn tay nhẹ nhàng lau sạch từng bài vị, trong lòng thầm thưa với người đã khuất.
“Các vị tiền bối Tạ gia, việc vãn bối làm đêm nay đều do hoàng thượng giao phó, thật chẳng phải lòng riêng muốn quấy nhiễu.”
“Nhà mẹ đẻ vãn bối chỉ còn phụ thân, vãn bối thực sự không muốn người phải chịu họa mất mạng.”
“Nếu có điều gì mạo phạm, mong các vị rộng lòng thứ lỗi.”
Lau dọn xong, ta thắp hương bái lạy tất cả rồi mới bắt đầu tìm kiếm.
Những chiếc tủ kê quanh từ đường phần lớn chứa nhang đèn, vàng mã cùng đồ cúng tế.
Ta lục hết chỗ này đến chỗ khác, cuối cùng mệt quá phải ngồi phịch xuống.
Lẽ nào từ đường này quả thật chỉ là nơi thờ phụng?
Không cam lòng, ta tìm thêm một lượt nữa, song thứ tìm được vẫn chỉ có hương và giấy tiền.
Ta đành rời khỏi đó, chẳng buồn nhìn lại.
Đêm đã về gần sáng, giờ này có lẽ hoàng thượng cũng sắp thức dậy chuẩn bị buổi thiết triều.
Ta xách đèn theo lối cũ trở về, bất chợt nghe thấy tiếng khóc vẳng tới từ một góc sân.
Chân ta dừng lại, trong đầu lập tức niệm đi niệm lại lời cầu Phật phù hộ.
Rồi ta lấy can đảm đi về nơi phát ra âm thanh.
Bấy giờ ta mới biết vì sao phủ tướng quân cứ đến nửa đêm lại có tiếng khóc.
Thực ra lòng ta đã đoán ra ít nhiều, chỉ là tận mắt thấy vẫn không khỏi đau xót.
Mấy gia nhân đang quỳ ở một khoảng sân khuất, lặng lẽ đốt vàng mã cho những người thân đã khuất.
Có lẽ họ đã dành riêng nơi này để tưởng niệm.
Nghe bước chân, mọi người vội quay lại, nhận ra ta thì lập tức hành lễ.
Ta không vội hỏi điều gì, chỉ lặng lẽ đến bên mọi người, tự mình quỳ xuống.
Muốn dò hỏi tâm sự trong lòng người khác, trước tiên phải ở cạnh họ như người nhà.
Ngọn lửa cuốn lấy từng tờ giấy, tro mỏng theo gió đêm bay lả tả lên không trung.
Một cô nương còn rất trẻ chợt hỏi: “Thiếu phu nhân cũng đang nhớ thiếu tướng quân sao?”
Ta quay sang nhìn nàng, thành thật đáp: “Ta chưa từng gặp mặt chàng, nếu nói mình ngày đêm thương nhớ thì e chỉ là lời dối lòng.”
Cô nương ấy do dự hỏi tiếp: “Thế sao thiếu phu nhân lại đến đây?”
Ta nhìn quanh những gương mặt đang hướng về mình rồi giải thích: “Ta đã sống ở Tạ phủ mấy ngày, tận mắt thấy mọi người làm việc chu đáo, đối xử hòa thuận, nên rất cảm động.”
Đúng lúc ấy, Phồn cô cô bước tới quỳ bên cạnh ta.
Bà bảo: “Thiếu phu nhân, người của Tạ phủ vốn không còn bao nhiêu, mà nay người là chủ nhân duy nhất còn ở đây.”
Ta nhìn bà, nhẹ nhàng nói: “Người đã đi xa hẳn cũng mong chúng ta bình an, vui vẻ mà sống tiếp, có phải không?”
Phồn cô cô đáp rằng ta thật rộng lòng.
Ta lại hỏi: “Đã muộn thế này, sao cô cô còn chưa nghỉ?”
Ánh lửa soi trong mắt bà, hồi lâu bà mới nói: “Nô tỳ nhớ đại tiểu thư.”
Đại tiểu thư mà bà nhắc tới chính là Tạ Thành Hoa.
Cô nương ban nãy xích đến gần ta, khẽ bảo: “Sau này thiếu phu nhân nhớ người đã khuất thì cứ đến đây.”
Nghe thế, ta bỗng hiểu ý nghĩa thực sự của khoảng sân nhỏ này.
Người ở lại dù phải sống cho kiên cường, cứ đến đêm vắng vẫn khó lòng nén được nỗi nhớ người đã khuất.
Một góc sân nho nhỏ như vậy đủ để họ thắp chút vàng mã, kể những điều chưa kịp nói rồi lặng lẽ khóc.
Không cần hẹn trước, hễ nhớ thương quá thì họ lại tìm đến đây.
Đến khi phía chân trời ánh lên sắc hồng, ta mới đứng dậy, để Phồn cô cô dìu ra ngoài.
Tạ thúc đã chờ sẵn trước cửa.
Vị lão quản gia chân què, ngoài mặt kiên cường mà trong lòng mềm yếu ấy quả nhiên lại đang lau nước mắt.
Thấy ta, ông chỉ dịu giọng nhắc: “Thiếu phu nhân, người mau về nghỉ đi.”
Ta gật đầu, chẳng nói thêm điều gì.
Trước ngày xuất giá, ta đã hình dung đủ chuyện có thể xảy ra khi sống trong phủ tướng quân.
Thật lòng mà nói, mấy ngày đầu ở đây, ta luôn lo lắng chẳng biết nương tựa vào ai.
Chẳng có mẹ chồng để phụng dưỡng, không có chị em dâu để làm bạn, ngay cả phu quân của ta cũng đã khuất.
Một cuộc sống như vậy liệu có thể yên ổn được chăng?
Đến hôm nay, ta mới nhận ra Tạ phủ không hề lạnh lẽo như những lời đồn.
Nơi này vẫn có tình thân, có sự chăm nom và chút hơi ấm mùa xuân âm thầm nảy nở.
Thuyền chìm bên cạnh vẫn có nghìn cánh buồm đi tới, cây khô phía trước rồi sẽ có vạn mầm xanh đ/â/m chồi.
Sáng hôm sau, ta thu xếp toàn bộ tấu chương, thánh chỉ và những dòng chép từ nhật ký, mang chúng vào cung.