Ăn xong, anh l.i.ế.m đầu ngón tay, ánh mắt lại rơi trên người tôi.
“Tại sao?” Anh đột ngột hỏi. Giọng vẫn khàn, nhưng đã rõ ràng hơn chút.
“Tại sao cái gì?”
“Không chạy. Không g.i.ế.c.” Đồng t.ử dựng đứng của anh không chớp: “Cô, yếu.”
Tôi nhếch mép: “Có lẽ vì tôi chưa điên đến mức ra tay với một người đang trọng thương. Hơn nữa.”
Tôi ngừng một chút: “Trông anh không giống... thứ bình thường. G.i.ế.c anh có lẽ sẽ gây rắc rối.”
Trong cổ họng anh phát ra một tiếng gần giống tiếng hừ, không biết là giễu cợt hay gì khác.
“Rắc rối.” Anh lặp lại từ này, như đang thưởng thức: “Tôi chính là rắc rối.”
Chiều hôm đó, lần đầu tiên anh cố gắng di chuyển.
Dùng đôi tay và cái đuôi tàn tạ chống đỡ, anh kéo mình từ góc tối đến chỗ khô ráo hơn, nơi có chút ánh nắng chiếu xuống.
Chỉ vài mét ngắn ngủi mà anh nghỉ tới ba lần, mồ hôi hòa cùng m.á.u để lại những vệt ướt trên sàn tàu.
Tôi không giúp, chỉ đứng nhìn.
Anh cũng không yêu cầu.
Sau khi di chuyển đến chỗ có ánh sáng, anh ngước đầu lên, để chút hơi ấm đáng thương kia rơi trên khuôn mặt và l.ồ.ng n.g.ự.c.
Những chiếc vảy xanh đen của anh dưới ánh nắng hiện lên sự thay đổi tinh tế tựa như sắc cầu vồng, không còn u tối nữa.
Tôi chú ý thấy dưới xương quai xanh của anh có một phiến vảy sắp xếp kỳ lạ, màu đậm hơn, giống như một loại gia huy tự nhiên.
“Nhìn xem.” Anh nói mà không quay đầu lại.
“Nhìn gì?”
“Ánh sáng.” Anh giang tay, màng giữa các ngón tay căng ra, cố gắng bắt lấy cột sáng hư ảo kia: “Dưới nước không giống vậy. Ở nơi sâu hơn, có những thứ tự phát sáng.”
Trong giọng điệu của anh có một chút... hoài niệm khó nhận ra?
“Anh đến từ biển sâu sao?”
Anh im lặng hồi lâu.
“Đã từng.”
Cuối cùng, anh nói vậy rồi không mở miệng nữa.
3.
Ngày thứ tư, ngày thứ năm...
Vết thương trên đuôi anh bắt đầu khép miệng.
Vây đuôi rách nát không còn nhỏ nước nữa, dù vẫn còn tàn tạ.
Anh đã có thể dùng cái đuôi bị thương chống đỡ cơ thể một chút.
Chúng tôi vẫn không nói chuyện nhiều, nhưng một sự ăn ý kỳ lạ dần nảy nở.
Tôi dần quen với sự tồn tại của anh, quen với ánh nhìn không giống người của anh, thậm chí quen với mùi hương đặc trưng trên người anh.
Trộn lẫn giữa mùi tanh biển, mùi m.á.u và một loại mùi khoáng chất lạnh lẽo.
Tôi bắt đầu kể cho anh nghe những chuyện vụn vặt, kể về thành phố trên đất liền, kể về sự thay đổi của bốn mùa, kể về chuyến khảo sát xui xẻo của mình.
Tất nhiên là lược bỏ những chi tiết cá nhân.
Anh thường chỉ lắng nghe, thỉnh thoảng sẽ hỏi vài câu bất ngờ, ví dụ như:
“Tại sao cây cối lại đứng yên không nhúc nhích?”
Hoặc
“'Thời gian không đủ' nghĩa là gì? Thời gian trong biển, luôn luôn đủ.”
Những câu hỏi của anh bộc lộ khuôn mẫu nhận thức thế giới của anh hoàn toàn khác biệt với con người.
Thời gian, không gian, ý nghĩa của sự sống, với anh dường như đều có một bộ tiêu chuẩn riêng bắt nguồn từ biển sâu và bản năng tộc đàn.
Một ngày nọ, khi hoàng hôn buông xuống, tiếng thủy triều đặc biệt lớn. Anh bỗng nhiên trở nên rất bất an, cái đuôi nóng nảy đập xuống mặt đất.
“Thủy triều sắp đầy.” Anh nhìn sắc trời dần tối sẫm và mực nước biển đang dâng cao ngoài khoang tàu: “Rất nhanh... nơi này sẽ bị ngập.”
“Con tàu này rất cao.” Tôi nói.
“Không đủ.” Anh quay sang tôi, đồng t.ử dựng đứng mở rộng trong bóng chiều tà: “Đối với tộc nhân của tôi, không đủ. Họ sẽ lần theo mùi hương... tìm ra kẻ bị ô nhiễm.”
“Kẻ bị ô nhiễm?”
Anh cúi đầu nhìn chiếc đuôi vẫn còn thương tích của mình, ánh mắt u ám.
“Tôi làm bẩn ổ ấp trứng quan trọng. Không phải cố ý... nhưng ô uế chính là ô uế. Theo luật pháp, phải bị trục xuất, hoặc... xử lý.”
Khóe miệng anh nhếch lên một nụ cười không cảm xúc: “Tôi đã chạy trốn. Nhưng họ có thể sẽ đuổi theo. Khi thủy triều lên, khả năng cảm nhận của họ là xa nhất.”
Đây là lần đầu tiên tôi nghe anh nhắc tới tộc đàn của mình và “luật pháp”. Một cấu trúc xã hội đẳng cấp nghiêm ngặt, quy tắc lạnh lùng.
“Vậy nên anh trốn ở đây, không chỉ vì vết thương?”
Anh mặc định thừa nhận.
Sau đó, anh nhìn tôi, ánh mắt phức tạp: “Mùi hương của cô... ở đây. Đã che giấu một phần mùi của tôi. Nhưng cũng không hẳn là chuyện tốt.”
“Mùi của tôi làm sao?”
Anh lại dùng ánh mắt đ.á.n.h giá đó nhìn kỹ tôi, từ tóc đến mắt cá chân, cuối cùng dừng lại trên mặt tôi.
“Ngọt. Ấm áp. Giống như... bãi cát nông dưới ánh mặt trời, giống như thịt mềm nhất của một vài loài nhuyễn thể.”
Lời mô tả của anh trực diện và nguyên thủy, khiến má tôi hơi nóng lên.
“Với nhiều tộc nhân biển sâu, mùi hương này có nghĩa là... sức sống dồi dào, thích hợp để...”
Anh dừng lại.
“Thích hợp để làm gì?”
Anh không trả lời, chỉ là đầu đuôi khẽ cuốn lại.
Đêm đó, tôi ngủ không hề an ổn.
Trong mơ là biển sâu u ám, vô số đôi mắt phát sáng đang nhìn chằm chằm trong bóng tối.
4.
Còn có những ngón tay lạnh lẽo của nhân ngư lướt qua cổ tôi. Đồng t.ử màu xanh thẫm của anh tỏa sáng trong đêm, lặp đi lặp lại câu nói đó.
“Ấp trứng của anh xong, thì sẽ để em thở.”
Tôi choàng tỉnh trong cảm giác ngạt thở, mồ hôi lạnh đầm đìa.
Trong hang đá chỉ còn tiếng vọng rỗng tuếch của nước chảy.
Nhân ngư không ở bên cạnh tôi.
Gần đây anh thường xuyên rời đi, khi trở về trên người mang theo mùi rong biển tươi, đôi khi đầu ngón tay còn vương chút màu đỏ sẫm chưa rửa sạch, đó là m.á.u của một loài cá biển sâu nào đó.
Tôi mò mẫm trong bóng tối.
Vết thương trên tay đã lành, để lại những vết sẹo màu hồng nhạt.
Nước bọt của nhân ngư quả thật có khả năng chữa lành kỳ diệu, nhưng cơ thể tôi vẫn rất yếu.
Sống lâu trong môi trường ẩm thấp tăm tối, thiếu ánh mặt trời và thực phẩm bình thường khiến tôi thỉnh thoảng lại ch.óng mặt.
Tôi sờ lên vách đá, ẩm ướt trơn trượt.
Nơi này rải rác những thứ anh thu thập được: xương cá khổng lồ, ngọc trai ảm đạm và cả vỏ sò.
Tôi cẩn thận tránh những vật có thể làm xước chân, di chuyển về phía khe sáng xanh u tối kia.
Ánh sáng đến từ khe đá rất cao phía trên mặt nước.
Tôi ước tính, nếu thủy triều rút xuống, có lẽ mình có thể leo lên đó.
Nhưng tôi không có công cụ, thể lực cũng không đủ.
Tiếng nước đột ngột vang lên.
Tôi cứng đờ.
Nhân ngư trồi lên từ dưới mặt nước, tạo thành một mảng nước b.ắ.n tung tóe.