Về phòng, ta viết thư cho huynh trưởng ở Giang Nam. Đội người năm xưa mẫu thân để lại cũng đến lúc phải dùng lại. Những thuộc hạ cũ của Tiêu Thừa Dận ở Tây Bắc, ruộng đất chàng ta âm thầm mua sắm, cả phần hồi môn bị chàng ta chiếm đoạt, ta đều phải tra cho rõ.
Viết được nửa thư, ta nhớ đến lúc mẫu thân lâm chung, người nhét miếng đồng phù hình cá vào lòng bàn tay ta. Người nói, những người ấy chỉ nhận tín vật, không nhận Hầu phủ, càng không làm việc cho Bùi gia.
Suốt mười tám năm qua, ta chỉ một lòng giữ thể diện cho nhà chồng, chưa từng động đến bọn họ. Nay ta muốn dựa vào người và bạc trong tay mình để bảo vệ con gái. Tờ hôn thư kia đã xé rồi.
Ta lần lượt ghi tên những người từng qua lại với Tiêu Thừa Dận trong mấy năm gần đây, đặc biệt khoanh tròn quãng thời gian chàng ta nhậm chức ở Tây Bắc. Kiếp trước Tri Ý c.h.ế.t quá vội, ta chưa kịp truy xét đến cùng. Kiếp này, từng khoản bạc không rõ nguồn gốc, từng kẻ che đậy cho chàng ta, ta đều phải nhìn cho thấu.
Đây mới chỉ là bắt đầu.
4.
Cửa tiệm được sửa sang xong, ta đưa Tri Ý đến gặp mấy vị thợ thủ công già mà ngoại tổ phụ để lại. Sư phụ Hàn tóc bạc xem bản vẽ nỏ liên phát, hai tay run lên: “Đây… thật sự là do cô nương tự vẽ sao?”
Tri Ý gật đầu, nói trên bản vẽ vẫn còn vài chỗ chưa nắm chắc, đang định xin các vị chỉ điểm. Hàn sư phụ bỗng quỳ xuống: “Lão chủ nhân lúc sinh thời vẫn thường nói, nếu ngoại tôn nữ chịu học nghề chế tạo, chưa chắc đã thua nam nhân. Hôm nay được nhìn bản vẽ này, lão phu dù nhắm mắt ngay lúc này cũng mãn nguyện!”
Tri Ý vội đỡ ông: “Ngài đừng làm tổn thọ con, con đã mở cửa làm ăn, sau này chỉ luận tay nghề, không luận chủ tớ.”
Một lão thợ khác vỗ n.g.ự.c: “Cô nương cứ yên tâm. Có mấy lão già chúng ta ở đây, tuyệt đối không để kẻ ngoài nghề làm hỏng bản vẽ tốt này.”
Xưởng được đặt tên là “Xảo Cơ phường”. Ban đầu, trước cửa vắng vẻ. Thỉnh thoảng có con em nhà quyền quý bước vào, cũng chỉ xem Tri Ý và bản vẽ nỏ trên tường như chuyện cười.
Tri Ý không tranh cãi với bọn họ, chỉ đóng cửa cùng các thợ già làm việc, chờ cơ hội để Bộ Binh nhìn thấy thành phẩm. Con không chịu mượn danh Hầu phủ để phô trương, chỉ chăm chút từng bản vẽ, từng món mẫu cho thật vững chắc.
Nhìn bóng lưng con cúi trước bàn, lòng ta vừa chua xót vừa mừng vì may mắn. Nếu kiếp trước ta sớm đưa con đến trước mặt những thợ già này, con đã chẳng phải giao hết bản lĩnh của mình vào tay Tiêu Thừa Dận.
Cơ hội đến rất nhanh. Bắc Địch thay đổi kỵ trận, tầm b.ắ.n của nỏ cũ triều đình không đủ, Bộ Binh treo thưởng cải tiến quân giới. Tri Ý nghe tin, đặt chiếc giũa trong tay xuống: “Nương, con muốn thử.”
“Đây chính là cơ hội con chờ đợi, cứ mạnh dạn làm đi.”
Ban đầu, con cùng các thợ già tháo lắp cơ quan nỏ hết lần này đến lần khác, chuyên sửa vọng sơn và nha phát. Hỏng thì tháo, tháo xong lại thử. Sau đó, tầm b.ắ.n của nỏ từng chút một được kéo dài. Đến khi chốt bản cuối cùng, tầm b.ắ.n đã tăng hơn ba phần so với nỏ cũ của triều đình.
Bản vẽ được đưa vào Bộ Binh. Mấy vị lão tướng ban đầu đều tưởng nó xuất phát từ một đại phường trăm năm. Lang trung Bộ Binh đích thân đến tiệm thử b.ắ.n. Mũi tên vừa rời nỏ, ông đã nâng cơ quan nỏ lên xem đi xem lại, rồi hỏi kỹ vọng sơn và nha phát được cải tiến ra sao.
Tri Ý kể cho ông nghe từng phương pháp đã thử trong hai tháng qua. Các thợ già đứng bên bổ sung, từ cách uốn cánh nỏ đến chuyện tầm b.ắ.n luôn thiếu nửa phân, tất cả đều nhớ rõ.
Lang trung lập tức nói: “Vật này nếu có thể sản xuất hàng loạt, quân giữ thành ở Tây Bắc sẽ có thêm một đường sống. Hôm nay bản quan sẽ lập tức xin công cho cô nương.”
Tri Ý quay sang nhìn ta, mắt đỏ hoe. Ta chỉ gật đầu với con. Con không rơi lệ trước mặt mọi người, chỉ giấu tay ra sau lưng, đầu ngón tay bấm c.h.ặ.t vào lòng bàn tay.
Trở về xưởng, con lại lau sạch chiếc nỏ đã thử b.ắ.n ấy một lần nữa. Người của Bộ Binh hỏi đến con, cũng ghi tên con. Công lao chỉ thuộc về chính con.
Khi đặt nỏ trở lại giá gỗ, đầu ngón tay con vẫn run, nhưng con mím môi cười rất lâu. Các thợ già nhìn con, cũng vui lây.
Thế nhưng Bộ Binh còn chưa kịp dâng tấu, một lá thư tố cáo nặc danh đã đến bàn Thượng thư, vu cáo Xảo Cơ phường ăn cắp bản vẽ cũ của Tiêu Thừa Dận, mạo nhận quân công.
Tri Ý tức đến run tay: “Nương, đó là bản vẽ con tự tay vẽ từng nét. Con gặp Tiêu Thừa Dận còn chẳng được mấy lần, lấy đâu ra mà trộm?”
“Hoảng cái gì? Thứ giả dối không chịu nổi đối chiếu đâu.”
Người viết thư là thuộc hạ cũ của Tiêu Thừa Dận, hiện đang giữ chức chủ sự trong Bộ Binh. Ta sai người chặn được một phong mật thư, bên trong có mệnh lệnh do chính tay Tiêu Thừa Dận viết: “Tìm một tội danh để đè bản vẽ của Bùi Tri Ý xuống. Nếu không đè được, thì đổ tội khi quân lên đầu nàng ta.”
Đọc xong, đầu ngón tay ta lạnh buốt. Kiếp trước, chàng ta cũng đối xử như vậy: xem tài hoa của Tri Ý là thứ có thể vắt kiệt, lại sợ con còn sống sẽ mở miệng.
Người của mẫu thân lần theo những mối qua lại bí mật, tra ra phong mật thư ấy. Ta sai người chép lại một bản, lặng lẽ đưa vào thư phòng của Bộ Binh Thượng thư.