Ta chỉ có áo bông mỏng, đôi chân trần lún vào tuyết quá mắt cá, răng lập cập, da thịt tím ngắt.
Bà lại bắt ta hơi cau mày, diễn ra nét Tây Thi ôm n.g.ự.c.
Nhưng cái lạnh làm ta run cầm cập, nào còn sức điều khiển vẻ mặt.
Thấy vậy, bà dí đầu trâm vào trán, quát rằng bà cần một nét phong lưu yếu đuối chứ không phải bộ dạng run rẩy của tiện tỳ.
Bao căm uất bỗng trào lên, ta hất phăng tay bà.
Bà lùi loạng choạng, trâm rơi xuống tuyết, ngơ ngác nhìn ta như vừa chứng kiến một tội ác tày trời.
Nhìn hai bàn tay đỏ ửng của mình, ta thoáng thấy hả hê rồi lập tức bị sợ hãi nuốt chửng.
Mẫu thân không la hét.
Bà cúi xuống nhặt cây trâm, phủi tuyết thật kỹ, ánh mắt tối sâu không đáy.
Bà kéo ta vào nhà khóa cửa, nhét vải chặn miệng, sau đó liên tiếp châm vào lưng, đùi và lòng bàn chân, toàn những chỗ người khác không nhìn tới.
Vừa hành hạ bà vừa khóc, mắng ta là giống nòi thấp hèn khiến phụ thân đổ m.á.u uổng công, tuyên bố phải dạy cho ta nhớ ngày hôm ấy suốt đời.
Trận đòn đó suýt lấy đi nửa mạng sống của ta.
Suốt ba ngày sốt cao, ta mê man như bị những cây kim nung đỏ ghim cứng vào giường.
Tỉnh lại, ta hiểu rằng chống đối không đưa mình ra ngoài được, chỉ dẫn đến một vực sâu đáng sợ hơn.
Vết trâm có thể không lưu sẹo, nhưng nỗi đau ấy đã ngấm vào tận xương tủy; bà có trăm cách mài giũa ta mà chẳng để người ngoài sinh nghi.
Qua cơn bệnh, ta ít nói hẳn.
Mẫu thân lại tấm tắc khen cuối cùng ta cũng học được chút trầm tĩnh của khuê tú danh môn.
Hầu phủ khi ấy mời tiên sinh về dạy đại tiểu thư.
Thỉnh thoảng bà lấy được những tờ giấy luyện chữ bị thải, coi chúng như báu vật, còn tìm mua giấy tuyên và b.út lông cho ta.
Riêng bà chỉ dùng nhánh cây vót nhọn viết xuống đất để chỉ dạy từng nét.
Bà nói tiểu thư lên ba đã được khai tâm, luyện chữ theo Ban phu nhân; ta học muộn thì phải bù bằng khổ công.
Hễ nét nào sai, cành cây quất ngay vào mu bàn tay.
Bà trừng mắt mắng nét chữ cũng biểu lộ thân phận, cổng Hầu phủ đến đôi sư t.ử đá còn có khí thế, sao con gái của người đã bỏ mạng cứu Thế t.ử lại viết chữ như giòi bò.
Ta chỉ biết nén rát, giữ c.h.ặ.t b.út và tiếp tục viết lên giấy những nét còn xa lạ.
Không riêng đọc viết, cầm kỳ thi họa đều phải học.
Nhà nghèo làm sao mua nổi đàn thật, mẫu thân bèn c.h.ặ.t trúc già, căng các sợi thừng lớn nhỏ lên đó rồi bắt ta gảy ngón tay ngày đêm.
Da tay trầy rách, rớm m.á.u, lên vảy rồi lại nứt; bà chỉ bảo mười ngón nối với tim, không đau làm sao ghi nhớ âm luật.
Bà mơ tới ngày tiếng đàn của ta mua vui cho người quyền quý, bởi thế chút đau ấy không được phép than.
Để dạy cờ, bà vạch trên đất bàn mười chín đường, nhặt sỏi đen và trắng làm quân.
Bà dạy đã hạ quân không được nuối tiếc, mỗi bước phải nghĩ trước mười bước, bởi tương lai ta là chủ mẫu cao môn chứ không phải đàn bà chỉ biết ghen tuông.
Đi sai một nước, ta bị bắt nắm c.h.ặ.t quân cờ có góc nhọn đến khi lòng bàn tay rớm m.á.u, mặt tái đi, mới được buông.
Học thêu cũng là học vẽ.
Mẫu thân bỏ ra hai tháng tiền công để nhờ một nha hoàn bên đại tiểu thư lấy về tấm mẫu thêu bỏ đi, trên đó có bông mẫu đơn chưa hoàn chỉnh.
Bà bắt ta nhìn ngắm rồi dùng kim chỉ bắt chước trên vải thô.
Đêm nào cũng ngồi bên đèn dầu tối, mắt cay xè, đầu ngón tay liên tục bị kim đ.â.m.
Mẫu thân thấy vết m.á.u chỉ lạnh lùng nhắc lau đi kẻo bẩn vải.
Một sợi tơ tiểu thư dùng đã đủ nuôi hai mẹ con cả tháng, bà nói, sau này được chạm vào vật quý mà bàn tay còn vụng thì khác nào phạm tội c.h.ế.t.
Những hôm ta làm tốt, mẫu thân đưa theo vào Hầu phủ khi đi bẩm sự hoặc nhận đồ theo lệ.
Bà đi trước lưng thẳng tắp, ra sức giữ phong thái ma ma thể diện, còn ta bước phía sau đúng một nhịp.
Không nhanh không chậm, vạt váy không được đung đưa, đồ trang sức không được phát tiếng.
Dẫu nào có ngọc quý, bên hông ta chỉ là hai chiếc chuông đồng cũ đã mòn.
Gia nhân nhìn thấy thường lễ phép gọi bà Liễu ma ma, còn nhìn ta bằng ánh mắt lãnh đạm.
Sau lưng, họ bảo ta là Đông Thi bắt chước Tây Thi, phận nô vừa thoát đã muốn làm thiên kim, đi đứng vụng đến sắp cùng tay cùng chân.
Mẫu thân giả như không nghe, càng cố ưỡn thẳng lưng.
Một bận đi dưới hành lang, chúng ta gặp đại tiểu thư được đám nha hoàn và bà t.ử vây quanh đưa ra vườn.
Đó là lần đầu ta được nhìn nàng gần đến thế.
Áo choàng lông hồ ly trắng ôm lấy gương mặt mịn màng, giữa mày mắt thoáng vẻ mỏi mệt và kiêu quý tự nhiên, dung mạo đẹp đến khiến người ta nín thở.
Mẫu thân lập tức kéo ta tránh bên đường, ấn đầu cúi xuống rồi khúm núm thỉnh an.
Đại tiểu thư không hề dừng, chỉ một ma ma bên nàng tùy ý phất tay đáp lễ.
Giữa làn hương thoảng qua, ta lén ngẩng lên, đúng lúc bắt gặp ánh nhìn của nàng.
Đôi mắt ấy trong trẻo nhưng lạnh nhạt, lướt qua ta như lướt qua ngọn cỏ hay viên đá bên đường, chẳng có chút lưu tâm.
Ta đứng lạnh cứng.
Người mà ta phải trả giá bằng bao vết thương để bắt chước, hóa ra không buồn nhận ra sự tồn tại của ta.
Về nhà, mẫu thân trái lại phấn chấn khác thường, liên tục ca ngợi phong thái đại tiểu thư, nói rằng hôm nay ta đi rất đẹp và hẳn nàng đã nhìn thấy.
Phụ thân ta họ Hà, đặt tên ta là Nhược Nhược.
Ngay khi thoát nô tịch, mẫu thân đổi thành Hà Nhược Vi, vì đại tiểu thư mang tên Dung Vi.
Từ tên gọi cho đến nét chữ, từng dáng đứng bước đi, tất cả đều phải lấy nàng làm khuôn.