Cái giếng sau nhà đã bị lấp một nửa.
Trên miệng giếng đè một tấm bê tông đúc sẵn, loại dùng ở công trường, một góc đã mẻ, lộ ra đầu thép gỉ. Dưới tấm bê tông nhét đầy gạch vụn, cát vàng, nửa bao xi măng. Bao xi măng rách một miệng, bột bị ẩm, kết thành cục cứng, đá một cái là lăn.
Thành giếng vẫn còn. Đá xanh, bị giẫm đến bóng loáng. Mặt trong thành giếng có hai vết dây thừng, một sâu một cạn. Ở vết cạn vẫn còn dính những sợi gai bung ra từ dây kéo nước.
Lục Thời ngồi xổm xuống, luồn tay qua khe hở của tấm bê tông. Khe chỉ rộng chừng ba ngón tay. Hắn sờ mặt dưới tấm bê tông trước, cảm nhận được bề mặt thô ráp cùng những cục vữa khô lổn nhổn. Sờ sâu vào trong, chạm thành giếng. Lạnh, ẩm.
Ba giờ chiều, trong nhà chính vẫn đang gõ khánh.
Khánh gõ rất đều, cách một lúc một tiếng. Đạo sĩ được mời đọc đến lần thứ ba, đọc rất nhanh, như đang đuổi thời gian. Trong sân phảng phất mùi hương, lẫn mùi đất mới đào lên, hòa vào nhau, nghẹn nơi cổ họng.
Thành giếng trơn nhẵn. Hắn dùng ngón tay cạo đi một lớp rêu xanh. Khi rút tay ra, đầu ngón tay đã đen sì.
Hắn chà tay lên quần hai cái, không sạch.
“Chú Ba.”
Lục Kiến Quốc từ cửa bên nhà chính bước ra. Tay ông cầm một cây xẻng sắt, trên lưỡi xẻng còn dính cát ướt, cát đang rơi xuống, từng hạt từng hạt rơi trên gạch xanh, đập thành mấy cái hố nhỏ.
“Tỉnh rồi à?” chú ba hỏi. “Cơm trong nồi đấy, tự xới đi. Nguội rồi thì đừng trách.”
“Ai lấp giếng.”
“Chú lấp.” Chú ba dựng xẻng vào tường. Cán xẻng va vào tường, phát ra một tiếng cộc khô khốc. “Lấp nửa ngày, gạch không đủ. Mai gọi thêm một xe.”
“Ai bảo chú lấp.”
Chú ba nhìn hắn.
Ông không trả lời ngay. Ông móc t/h/u/ố/c lá từ túi ra, rút một điếu, gõ lên bao hai cái, không châm.
“Thời à, cháu hai mươi chín rồi.”
“Cháu hỏi ai bảo chú lấp giếng.”
“Cái sân này sắp bán, cháu biết giá thị trường không.” Chú ba ngậm điếu t/h/u/ố/c. “Dính cái giếng này, người ta chê ẩm. Lấp rồi, sân sạch, bán thêm tám vạn.”
“Không bán.”
“Cháu nói không tính.” Chú ba phủi tay, bụi bay lên một lớp trong nắng. “Sổ đỏ đứng tên bà cháu. Bà đi rồi, là chú với bố cháu với hai cô chia. Phần bố cháu thuộc về cháu, một phần tư.”
“Cháu bỏ tiền mua.”
“Cháu mua nổi?” Chú ba nhìn hắn. “Cái cửa hàng ở Hàng Châu của cháu, một năm kiếm được mấy đồng.”
“Cháu mua nổi.”
“Chú nói thật. Bên ông Dương trả một trăm hai mươi vạn tiền mặt. Tháng sau là có thể ký hợp đồng.”
Lục Thời không đáp.
Hắn đưa tay nâng một góc tấm bê tông lên. Tấm bê tông nặng, vai căng lên, gân xanh từ cổ kéo dài đến cánh tay. Cát dưới tấm bê tông rơi qua khe, rơi xuống giếng, không có tiếng.
“Cháu làm gì.”
“Bê gạch ra.”
“Lục Thời.” Giọng chú ba trầm xuống. “Đừng có cãi chú.”
“Cháu không cãi. Cháu bê gạch.”
Viên gạch đầu tiên còn nguyên, xanh, một góc mẻ nhỏ. Hắn móc hai đầu viên gạch, kéo lên, mặt gạch cọ vào tấm bê tông, phát ra một tiếng rất nặng.
Gạch rơi trên nền gạch xanh, đập ra một vết trắng. Viên thứ hai là nửa viên, gãy miệng.
Hắn bê đến viên thứ tám thì dừng lại. Hắn dùng móng tay cạo một lớp xi măng cũ trên mặt gạch. Dưới viên gạch đè một vết mờ nhạt, là dấu ngón tay ai đó ấn khi nung gạch.
Hắn nhìn viên gạch một lúc, rồi đẩy nó sang bên và tiếp tục dỡ gạch.
Đến viên gạch thứ mười bảy, lòng bàn tay hắn đã rách. Máu dính lên mặt gạch, hòa với cát ướt thành một vệt đỏ sẫm.
Chú ba đứng bên cạnh nhìn.
Ông nhìn về phía nhà chính, rồi nhìn lại. Ông lấy điếu t/h/u/ố/c chưa châm từ miệng xuống, nhét lại vào bao. Rồi ông bước tới, cũng cúi xuống.
“Để đâu.”
“Góc tường.”
Từng viên gạch được chuyển đến góc tường, xếp thành ba đống. Chú ba bê chậm, bê hai viên lại đứng thẳng lên một cái. Lòng bàn tay ông đầy chai.
Bê nửa tiếng, miệng giếng lại lộ ra.
Trong giếng đen kịt. Trên miệng giếng có một con kiến, bò vòng quanh, bò đến chỗ mẻ thì rẽ một cái.
Lục Thời nhặt một viên sỏi nhỏ dưới đất, ước lượng trọng lượng trong tay rồi ném xuống giếng.
Viên sỏi rơi xuống rất lâu. Mãi một lúc sau, hắn mới nghe thấy tiếng sỏi chạm đáy.
“Bảy trượng hai.” Lục Thời nói.
“Cháu nhớ rõ nhỉ.”
“Cháu đo rồi.”
“Đo khi nào.”
“Hồi cấp hai.”
Chú ba đứng thẳng, thở. “Rốt cuộc cháu muốn gì. Cái giếng này lấp rồi có ảnh hưởng gì đến cháu.”
“Bà không lấp.”
“Bà lú lẫn mấy năm rồi.” Chú ba nhấc xẻng lên, nói tiếp: “Năm ngoái, chú tìm người đến lấp giếng. Bà chống gậy ngồi bên giếng suốt đêm, ai khuyên cũng mắng.”
“Bà mắng chú gì.”
“Mắng chú bất hiếu.” Chú ba xoay cán xẻng trong tay. “Năm nay không ai cản nữa.”
“Cháu cản.”
Chú ba cười nhạt.
“Cháu cản được mấy ngày?”
Trời tối dần. Cây mai sau nhà năm ngoái khô c/h/ế/t, cành vẫn đứng đó, trơ trụi. Gió đi qua kẽ cành. Trên mái nhà đè một tấm ni lông, kêu hai tiếng.
Chú ba lại móc t/h/u/ố/c từ bao ra, lần này châm. Ngọn lửa lệch đi trong gió. Ông cắm cây xẻng xuống đất, lưỡi xẻng vào đất nửa thước.
“Được. Chú cho cháu ba ngày.”
“Ba ngày nữa chú sẽ gọi xe đến. Cháu hoặc giải thích rõ chuyện cái giếng này, hoặc tránh sang một bên.”
Ông quay về nhà chính. Đi đến cửa lại ngoái đầu.
“Thời à, người trong làng lắm lời lắm. Cái giếng này, nếu không giải thích được cho rõ thì đừng giữ.”
Trong sân chỉ còn Lục Thời một mình.
Hắn ngồi trên thành giếng, vết rách trong lòng bàn tay vẫn đang rỉ m/á/u. Hắn lấy tay áo ấn xuống, ấn một lúc, trên tay áo một vết sẫm.
Khi chín tuổi, hắn cũng từng ngồi ở đây.
Hôm ấy là một ngày hè, nắng ch/ói chang đến hoa mắt. Hắn nằm trên thành giếng, nhìn xuống đáy suốt cả buổi chiều. Mặt nước giếng soi bóng hắn, cũng soi cả bầu trời. Một đám mây trắng nhỏ chầm chậm trôi qua trong bóng nước.
Bà bưng một bát canh đậu xanh từ trong nhà ra, ngồi bên cạnh hắn. Bát là men xanh, mép bát mẻ một miếng nhỏ.
“Đợi gì đấy.”
“Xem chữ.”
“Ai bảo cháu sẽ thấy chữ?”
“Bà nói.” Hắn ngẩng đầu. “Bà bảo trong giếng sẽ có người viết chữ cho cháu xem.”
Bà bưng bát, hồi lâu không uống.
Trong sân ve kêu không ngớt.
“Sẽ có.” Bà đặt bát xuống. “Đợi cháu xem hiểu được, là có.”
Hồi đó hắn không tin. Hắn còn giận dỗi, đặt nửa bát canh đậu xanh lên thành giếng, mặc cho bát canh nguội dần, đường lắng xuống đáy bát.
Ngày hôm sau hắn lại đến, nằm đến tê chân. Ngày thứ ba hắn đi học, quên mất chuyện này.
Sau đó hắn lớn lên, cũng không nghĩ đến nữa.
Hai mươi năm.
Lục Thời đứng dậy, tay đặt trên thành giếng, nhìn xuống đáy.
Đen. Ngoài đen ra, không có gì.
Trong nhà chính tiếng khánh ngừng một lúc, lại vang lên. Đạo sĩ ở ngoài gọi đạo tiếp theo.
Đèn bếp bật, ánh vàng từ cửa sổ hắt ra, trải một dải dài trong sân.
Lục Thời vào nhà tìm một chiếc bát cũ. Miệng bát bị mẻ một góc, sờ vào thấy ram ráp. Hắn tắt đèn bếp rồi ngồi xổm bên giếng.
Hắn thò tay xuống giếng, múc nửa bát nước. Mu bàn tay cọ vào thành giếng lạnh buốt, hơi lạnh truyền thẳng lên cánh tay.
Trên mặt nước lấm tấm vài hạt bụi.
Hắn bưng bát lên, không uống. Hắn nhìn chằm chằm nửa bát nước.
Mặt nước phẳng lặng.
Phẳng lặng như một tấm gương chưa lau.
Trên mặt nước là khuôn mặt hắn. Hắn cử động, bóng hình cũng lay theo. Hắn đứng yên, bóng hình cũng yên lại, chỉ khẽ rung lên rồi tan ra.
Đáy giếng rất sâu. Trong cái đen đó, có một mùa đông khác.
Lục Thời về phòng tìm đèn pin. Đó là chiếc đèn pin cũ vỏ sắt, dùng hai viên pin, được bà cất dưới bếp. Hắn vặn nắp phía sau ra kiểm tra, thấy pin vẫn chưa bị gỉ. Hắn bấm công tắc mấy lần, đèn mới sáng lên, ánh sáng vàng vọt, chỉ chiếu được một khoảng ngắn.
Hắn đặt đèn pin cạnh bát, chiếu ánh sáng xuống giếng.
Ánh đèn chiếu sâu xuống đáy giếng, cách miệng giếng bảy trượng hai. Trên thành giếng mọc một lớp rêu đen, từ miệng giếng rủ xuống. Đáy giếng có một vũng nước, không lớn, như mặt gương.
Trên mặt nước không có gì.
Hắn nhìn một lúc, mắt bắt đầu mỏi. Hắn tắt đèn pin rồi bật lại.
Giếng vẫn là giếng.
Cửa nhà chính kêu, có người gọi hắn lên lạy. Hắn đáp một tiếng, không động.
Ánh đèn pin chợt chao đi. Hắn tưởng pin bị lỏng, bèn xoay nhẹ thân đèn.
Khi chiếu xuống lần nữa, hắn nhận ra trong vũng nước dưới đáy giếng có một góc trắng lờ mờ hiện lên.
Không phải rêu, cũng chẳng phải gạch vụn. Trông nó giống góc cạnh của một vật gì đó. Quá xa, hắn không nhìn rõ, càng không thể với tới.
Lục Thời đặt đèn pin lên thành giếng rồi vào nhà. Hắn còn phải vào làm lễ.
Trước khi đi, hắn ngoái nhìn miệng giếng thêm lần nữa.
Chút trắng trong giếng vẫn sáng ở đó.