Trong nhà chính có người đang kê bàn. Chân bàn miết trên nền gạch, tiếng cọ lúc dài lúc ngắn.
Lục Thời từ sân sau bước lên, mảnh vải nơi đầu gối ướt. Đêm qua hắn ngồi bên giếng đến tận khuya.
“Thời à.” Tam thúc từ nhà trước vòng vào, hai tay đút túi áo bông, “Người đến đủ rồi, vào nhận đồ đi.”
“Nhận gì.”
“Sổ lễ. Với mấy tờ giấy trong tủ của bà nội cháu.”
Lục Thời trong tay cầm một chùm chìa khóa đồng thau, đầu chìa buộc dây đỏ, đầu dây đã sờn.
Sau lưng Tam thúc có một người đàn ông bước vào, chừng bốn mươi tuổi, gấu áo khoác quân đội dính bùn khô, trên vai vác một cuộn thước thép.
“Chính cái này.” Tam thúc hất cằm về phía giếng, “Đo độ sâu, ước lượng xem bao nhiêu.”
Người đàn ông đặt đầu thước lên thành giếng rồi thả xuống. Thước thép va vào thành đá, loảng xoảng một hồi, đến giữa chừng thì im bặt. Không nghe thấy tiếng chạm đáy.
Lục Thời bước tới, đưa tay đè thước lại.
“Đừng đo.”
Người đàn ông nhìn hắn, lại nhìn Tam thúc.
“Ông chủ, lấp một cái giếng không khó.” Người đàn ông nói, “Hai xe tải đá, một buổi chiều là lấp xong. Giữa sân có cái giếng thế này, căn nhà cũng khó bán.”
“Nhà không bán.”
“Cháu nói không tính.” Tam thúc nói.
“Bà nội nói mới tính.”
Lục Thời buông tay, lấy điện thoại ra, mở ứng dụng thanh toán. “Sư phụ, tiền chạy việc bao nhiêu.”
“Cái này…”
“Hai trăm. Ông về đi.”
Tam thúc bước lên một bước. “Lục Thời, cháu lấy đâu ra tiền.”
“Cháu tự kiếm.”
“Việc của bà nội cháu còn chưa xong.”
“Cho nên chú ba đừng lấp giếng trong sân nhà bà.”
Người đàn ông nhìn Lục Thời, rồi lại nhìn Tam thúc. Cuối cùng, ông lấy điện thoại ra quét mã. Tiếng thông báo nhận tiền vang lên giòn tan trong sân nhỏ.
“Vậy tôi đi trước.” Người đàn ông cuộn thước lại, “Anh, nghĩ kỹ rồi gọi tôi.”
Cửa sân kêu một tiếng. Tam thúc đứng yên, nhìn Lục Thời.
“Rốt cuộc cháu muốn làm gì.”
“Cháu muốn cái sân này yên tĩnh hai ngày.”
“Sau đó thì sao.”
“Sau đó tính tiếp.”
“Bà nội cháu nếu còn sống, cũng sẽ nói cái giếng này nên lấp.”
“Bà còn sống thì cái giếng này không cần chú lấp.”
“Cháu đừng lấy bà ra ép chú.”
“Cháu không ép. Cháu chỉ đứng đây.”
Tam thúc nhìn hắn hai giây, vén rèm vào nhà. Rèm vải bông rủ xuống, lay hai cái.
Lục Thời quay lại bên giếng. Ban ngày, nước giếng ánh lên màu xám đục, không thấy đáy. Trên mặt nước lấp loáng những đốm sáng vụn.
Hắn móc từ ba lô ra một cây đèn pin. Vỏ nhôm, tróc sơn, là cây bà nội treo bên bếp. Hắn vặn công tắc hai lần. Ánh đèn vàng vọt bật lên.
Ánh sáng rọi lên mặt nước, mặt nước rất phẳng.
Hắn ngồi xuống, nghiêng đèn pin soi vào thành giếng. Đá ẩm, kẽ hở mọc đầy rêu xanh. Mặt trong thành giếng có hai rãnh, một sâu một cạn, hẳn là dấu dây kéo gàu nước để lại qua bao năm.
Hắn dùng ngón tay men theo rãnh sâu sờ một vòng. Đá lạnh buốt tay.
Hắn dùng đốt ngón tay gõ lên thành giếng. Đá xanh kêu đục, đặc ruột.
“Ai.” Hắn nói vào trong giếng một tiếng.
Trong giếng có chút vọng lại, rất ngắn, như từ dưới rất sâu dội lên.
Không ai đáp hắn.
Hắn tắt đèn pin, lại mở. Trong nước chỉ có một gương mặt của chính hắn.
Phía đông thành giếng sứt một góc, trong chỗ sứt nhét nửa viên gạch xanh. Hắn đưa tay ngoáy ngoáy, viên gạch còn động, khẽ đụng là lung lay.
Hắn móc từ ba lô ra một cây xủi trúc, dùng mũi nhọn khều bùn khô trong kẽ ra. Bùn rơi thành từng mảng, rơi lên mũi giày hắn.
Việc này hắn nhắm mắt cũng làm được: khều bùn ra, trám lại, miết cho phẳng. Hắn khều thêm hai lần rồi dừng tay, cất cây xủi trúc vào ba lô.
“Thời à, vào ăn chút gì nóng.” Biểu cô đứng ở cửa gọi.
“Cháu không đói.”
“Cháu không đói, giếng cũng không đói.” Biểu cô chà tay lên tạp dề, “Cháu giữ nó, nó thêm cơm cho cháu được chắc?”
“Cháu ăn sau.”
Biểu cô hừ một tiếng, vào trong.
Lục Thời bưng từ bếp ra một bát nước giếng đã pha thêm chút nước nóng. Hắn uống hai ngụm, nửa bát còn lại đặt lên thành giếng.
Đáy bát âm ấm. Hắn uống xong, bưng bát về bếp, lại ra.
Hắn lấy từ ngăn bên hông ba lô ra một cuốn sổ mềm, dùng b/út chì viết một dòng: Hai mươi sáu tháng Mười, buổi sáng, mặt nước phẳng.
Viết xong hắn nhìn một lúc, gạch dòng đó đi. Bút chì để lại trên giấy một vệt xám.
Hắn cúi xuống, hai bàn tay khum thành cái bát nhỏ, vốc từ giếng lên nửa lòng bàn tay nước. Nước lạnh, từ kẽ ngón tay rò mất một nửa.
Hắn dùng ngón trỏ chấm nước trong lòng bàn tay, viết lên thành giếng.
Trước viết bên trái, một chấm, một ngang, một ngang, một ngang, một sổ, lại một cái khẩu. Bên phải gồm một nét phẩy, một nét sổ, ba nét ngang, rồi một nét sổ và một nét ngang.
Nước để lại trên đá xanh từng nét một màu sẫm. Hắn viết chậm, chỗ khởi b/út nước nhiều, chỗ thu b/út nước mỏng.
Viết xong, hắn lùi nửa bước nhìn.
Chữ “Ai” nằm trên đá, ướt bóng.
Hắn đứng nghĩ: Bên nàng nhìn thấy, e là ngược. Hắn dùng tay áo xóa chữ đi, rồi viết lại. Mới được nửa chừng, hắn đã dừng tay, nhận ra cả hai cách đều không đúng.
Mặt trời ngả về tây. Vết nước trên thành giếng trước đứt một nét phẩy, rồi nhòe mất nửa bên. Hắn lần theo nét chữ một lần nữa. Vừa viết xong, hắn ngắm một lúc, nhưng nét chữ lại nhanh ch/óng khô đi.
Đá khô nhanh hơn giấy. Hắn làm ướt đầu ngón tay rồi lại viết.
Buổi chiều Tam thúc ra ngoài nghe điện thoại, đứng dưới gốc mai khô, giọng ép xuống thấp.
“…Được, mai các người cứ đến xem nhà. Giá cả còn thương lượng được.”
“…Cái giếng sau nhà, chú lấp.”
Lục Thời nghe thấy, không quay đầu.
Hắn bẻ một cành mai khô. Cành giòn, vừa bẻ đã gãy. Chỗ gãy bên trong xám trắng, như giấy cũ.
Hắn nhớ lúc mình sửa sách, sợ nhất là loại giòn này.
Thím nhà bên ló đầu qua tường rào, tay xách một chiếc xô nhựa.
“Thời à, Tam thúc cháu nói cháu muốn giữ cái giếng này?”
“Giữ.”
“Nước giếng còn uống được không?”
“Không uống được, cháu để ngắm.”
“Ngắm cái gì.” Thím đổi tay xách xô, “Một cái giếng có gì mà ngắm.”
“Đồ của bà nội cháu.”
“Cái giếng này bao nhiêu năm rồi.”
“Bà nội cháu nói bà còn nhỏ đã có.”
“Hồi đó nước giếng ngọt.” Thím nói, “Bây giờ ai còn uống nước giếng.”
“Cháu thật không bán thì đậy giếng lại.”
“Cháu xem thêm đã.”
Thím nhìn hắn, lại nhìn giếng, đi. Dép lê kêu lạch bạch trên nền xi măng.
Nhà trước lại có tiếng bàn bị kê. Lục Thời lật sang trang mới, ghi ngày tháng hôm nay.
Hắn muốn viết ra điều mình nhìn thấy. Ngòi b/út đặt lên giấy, chỉ viết một chữ lại dừng.
Hắn xé trang giấy ra, gấp làm đôi rồi nhét vào túi áo trong.
Hơn ba giờ, hắn đứng dậy, lại vốc một lòng bàn tay nước, viết lại chữ “Ai” lên thành giếng.
Viết đến nét ngang cuối cùng, hắn dừng ngón tay trên đá, ngẩng đầu nhìn nước giếng.
Mặt nước không có chữ.
Đến trước khi trời tối, hắn viết tổng cộng bảy lần. Mảng đá trên thành giếng bị nước thấm đen. Chữ chồng lên chữ, chẳng còn phân biệt được nét nào thuộc lần viết nào.
Trong nhà bật đèn. Trên cửa lưới in ra nửa bóng của Tam thúc. Biểu cô bưng một chậu nước ra, thấy hắn còn ngồi xổm bên giếng.
“Rốt cuộc cháu đợi cái gì.”
“Đợi một câu.”
“Nói với ai.”
“Nói với giếng.”
“Mai cháu về Hàng Châu không.”
“Tính sau.”
“Tam thúc cháu nói mai có người đến xem nhà.”
“Xem đi.”
“Biểu cô, trước đây bà nội cháu có ngồi bên giếng buổi tối không.”
“Có.” Biểu cô nói, “Ngồi một đêm. Ai hỏi cũng không nói.”
Biểu cô nhìn cái giếng, hắt nước trong chậu vào gốc mai, quay vào nhà. Rèm cửa rủ xuống, bên trong truyền ra tiếng tivi.
Trời tối, cửa sân cài then. Lục Thời gom lá rụng đọng trên miệng giếng sang một bên, lại xếp mấy viên gạch vụn bên chân vào sát bên thành giếng.
Hắn ngồi lên bậc thềm, móc điện thoại ra xem. Pin còn ba mươi mốt phần trăm.
Hắn không gọi cho ai. Công việc của hắn đã kín lịch đến tận tháng Chạp. Đống giấy và hồ vẫn đang đợi hắn trong xưởng ở Hàng Châu.
Hắn nhét điện thoại về túi, đứng dậy, mở đèn pin.
Cột sáng rọi lên mặt nước một vòng tròn trắng. Màu nước đậm hơn, trong vòng tròn không có gì.
Hắn tắt đèn pin. Lại mở. Vẫn không có.
Hắn đặt đèn pin lên miệng giếng, để ánh sáng nghiêng soi xuống.
Đợi.
Hắn đếm hai rãnh trên thành giếng, đếm xong đếm gạch bên chân, đếm xong nhìn ngói trên tường rào. Trong sân yên ắng. Từ trong nhà vọng ra tiếng cười trên tivi.
Bảy lần chữ trên thành giếng đều khô, trên đá chỉ còn một lớp vết xám rất mỏng.
Hắn khum tay hứng một ít nước, rồi đưa ngón trỏ chạm lên mặt giếng, chậm rãi vạch thành chữ “Ai”.
Nước khẽ động. Gợn sóng đập vào thành giếng, lại dội về.
Chữ không còn.
Trên thành giếng có một vệt nước chảy xuống, chảy đến mặt nước là hết.
Hắn đợi trong giếng đáp lại một chữ.