18
Trên đường đến biên quan, cuối cùng Tạ Ninh Triều cũng trầm giọng nói:
“Ở lại kinh thành ngược lại càng khiến người ta bất an.”
Lục Từ Uyên và Đại hoàng t.ử đã đấu đến hồi gay gắt nhất.
Trên triều sóng ngầm cuồn cuộn, chẳng ai biết ngay sau đó sẽ xảy ra chuyện gì.
Ánh mắt hắn ta dừng trên mặt ta, đầy vẻ lo lắng.
Ta cong môi, cố nặn ra một nụ cười:
“Sao? Sợ ta lo lắng cho hắn à?”
Nói ra rồi, ta lại cảm thấy có chút thừa thãi.
Thành cũng được, bại cũng thế.
Lục Từ Uyên đi đến bước đường hôm nay, vốn là con đường chính hắn ta đã chọn.
Nếu ban đầu đã lựa chọn, vậy sau này dù là bùn lầy hay vực sâu, hắn ta cũng phải tự mình bước tiếp.
Ta quay đầu, nhìn những dãy núi hoang nối dài ngoài cửa xe, không nói thêm gì nữa.
19
Biên cương lạnh khắc nghiệt, xa hơn rất nhiều so với những gì người thường có thể tưởng tượng.
Ta đến đây hơn một tháng mà vẫn chưa quen nổi cuộc sống nơi này.
Hôm qua người còn cười nói trước mặt ta, hôm nay đã trở thành một cái tên gọi mãi không còn ai đáp lại.
Những người mất tay mất chân, nhận được chút tiền tuất ít ỏi, kéo lê thân thể tàn tạ trở về quê cũ.
Nhưng có những người, quê hương của họ từ lâu đã chẳng còn ai nữa.
Ngày tháng cứ lặng lẽ trôi qua, bình yên mà khắc nghiệt.
Tạ Ninh Triều đ.á.n.h thắng vài trận, cuối cùng cũng có đủ bản lĩnh để bảo vệ đệ đệ mình, chỉ tiếc người đệ đệ ấy mãi mãi không thể trở về nữa.
Tin tức từ kinh thành truyền đến rất chậm, lá thư duy nhất gửi tới là tin Lục Từ Uyên đại hôn.
Tạ Ninh Triều sợ ta buồn, đúng lúc không có chiến sự, hắn liền ở bên ta cả ngày.
Ta bị hắn đi theo đến phát phiền, đẩy hắn một cái:
“Chàng có thể nghỉ một lát được không? Vết thương trên tay còn chưa lành.”
Hắn nhìn ta, nghiêm túc nói:
“Ta sợ vết thương trong lòng nàng, ta lại không nhìn thấy.”
Ta sững người:
“Từ bao giờ chàng trở nên văn vẻ thế này?”
Tạ Ninh Triều cúi đầu.
“Bởi vì nàng là người cuối cùng ta còn xem trọng. Nàng đau lòng, ta cũng sẽ đau lòng.”
Thật ra ta chỉ hơi buồn một chút, mởi vì trong lòng vẫn còn sót lại một chút tình yêu.
20
Chiến sự nơi biên cương kéo dài đứt quãng suốt hai năm.
Hai năm ấy, từng có lần quân địch nhân đêm tối tập kích doanh trại, cũng từng có lần Tạ Ninh Triều suýt rơi vào bẫy.
Mỗi lần đều hiểm nguy vô cùng, sau này nhớ lại vẫn khiến sống lưng người ta lạnh toát.
May mà quân địch cuối cùng cũng liên tiếp bại trận, xem chừng chẳng bao lâu nữa có thể thu quân hồi triều.
Một ngày không có chiến sự, ta ngồi bên ngoài doanh trướng phơi nắng, thuận miệng hỏi hắn:
“Sau khi trở về, chàng muốn làm gì?”
Hắn suy nghĩ một lúc, giữa đôi mày hiếm khi hiện lên chút nhẹ nhõm:
“Cởi giáp về quê, tìm một nơi thôn dã nào đó mà sống.”
Ta nói:
“Vậy thì tốt quá. Ta cũng định như thế.”
Hắn nghiêng đầu nhìn ta, đáy mắt bỗng sáng lên:
“Vậy chúng ta có thể làm hàng xóm không?”
Ta không nhịn được cười:
“Được chứ. Ta nuôi gà, chàng nuôi vịt, rồi quây một vườn cây quanh sân. Đến mùa thu, cả sân đều thơm mùi trái chín.”
“Không đúng, trước kia chẳng phải chúng ta đã nói sẽ xuống Giang Nam sao? Dương Châu cũng được, Tô Châu cũng được, chi bằng đến đó.”
Tạ Ninh Triều cong mắt cười, cũng cười theo:
“Được.”
Trận chiến cuối cùng diễn ra vô cùng t.h.ả.m khốc.
Tạ Ninh Triều lấy ít địch nhiều, cứng rắn đ.á.n.h bại quân địch nhưng chính hắn lại mất tích sau trận chiến.
Chúng ta lục tung phạm vi mấy chục dặm, tìm suốt ba ngày ba đêm, ngay cả một mảnh giáp vỡ cũng không tìm thấy.
Ta cưỡi ngựa lao vào chiến trường ngập đầy t.h.i t.h.ể, vó ngựa giẫm qua những mũi tên gãy, những thanh binh khí vương vãi.
Ta hết lần này đến lần khác gọi tên hắn, hết lần này đến lần khác cầu xin thần Phật thương xót.
Nhưng ngoài tiếng vọng của chính mình, chẳng còn gì cả.
Phó tướng khuyên ta, nói rằng mất tích chưa chắc đã là kết cục tồi tệ nhất.
Nhưng nếu hắn còn sống, tại sao không trở về?
Chúng ta đã hẹn sẽ cùng nhau đến Giang Nam, hắn nói ta là người cuối cùng hắn còn xem trọng.
Đối với ta, hắn lại chẳng phải cũng như vậy sao?
Trong doanh trướng, ta ôm ngọn nến cô độc, khóc suốt một đêm, cũng khắc một tấm bài vị gỗ suốt một đêm.
21
Trời còn chưa sáng hẳn, bên ngoài bỗng truyền đến một trận hỗn loạn.
Tim ta chợt thắt lại, lập tức vén rèm lao ra ngoài, chỉ thấy một chiến mã chậm rãi bước vào doanh trại.
Trên lưng ngựa là một bóng người toàn thân đẫm m.á.u.
Người ấy nằm sấp trên lưng ngựa, bất động không nhúc nhích, m.á.u theo yên ngựa nhỏ từng giọt xuống đất.
Ta bước tới, đưa tay vén mái tóc rối phủ trên mặt hắn, tay ta run đến mức gần như không thể khống chế.
Là Tạ Ninh Triều.
Hắn khẽ ngẩng đầu, khóe môi cố nặn ra một nụ cười:
“A Dữ! Ta về rồi.”
Tạ Ninh Triều bị thương rất nặng.
Quân y phải sắc liền mấy thang t.h.u.ố.c dữ dội mới kéo hắn trở về từ cửa Quỷ Môn Quan.
Hắn nằm trên giường, trong tay nắm c.h.ặ.t một tấm bài vị gỗ, sống c.h.ế.t không chịu buông.
Ta đưa tay định giật lấy:
“Tạ Ninh Triều, đó là bài vị! Bài vị ta khắc cho chàng đấy! Trả đây, ta phải đốt nó!”
Hắn nhét tấm bài vị vào trong n.g.ự.c, ôm c.h.ặ.t lấy, bảo vệ kín mít:
“Không đưa, không đưa! Trên đó khắc mấy chữ ‘tiên phu Tạ Ninh Triều’. Có tên ta thì chính là của ta rồi.”
“A Dữ, nàng không phải định đợi ta c.h.ế.t rồi, cầm thứ này xuống Hoàng Tuyền cho ta một chút tưởng niệm đấy chứ?”
Ta sững người.
Không phải.
Chúng ta ở bên nhau đã lâu.
Từ lúc ban đầu còn ngây ngô chẳng hiểu gì, đến khi dò xét lòng nhau, rồi dần dần tiến lại gần.
Cũng từng tiếc nuối lạc mất nhau giữa biển người.
Hắn hiểu rõ lòng mình trước ta.
Còn ta, phải trải qua chuyện với Từ Uyên, mới từng chút từng chút học được cách yêu một người.
Ta từng thật lòng thật dạ yêu Lục Từ Uyên.
Nhưng tình yêu ấy đã bị năm tháng mài mòn đến cạn kiệt trong những kẽ hở của thời gian.
Giờ đây, cuối cùng ta cũng tích đủ sức lực để dọn trống một khoảng trong tim.
Cũng tích đủ dũng khí để đón nhận một người khác.
Ta cúi xuống, đặt một nụ hôn lên trán hắn:
“Không phải để an ủi chàng.”
Mặt hắn lập tức đỏ bừng đến tận vành tai.