Nói đến chuyện họp chợ, Kiều Vi hào hứng không kém gì Nghiêm Tương, đây cũng là lần đầu cô đi một phiên chợ quê như thế này.
Thị trấn họ ở gọi là Hạ Hà trấn, gần đó có con sông, cách không xa. Từ nhà Nghiêm Lỗi đến bờ sông cũng tầm như khoảng cách tới đại viện.
Phiên chợ họp ngay trên bãi ven sông, gần như chính là chỗ Nghiêm Lỗi hôm qua đào bùn.
Mấy xã quanh vùng đều đổ về, mang theo nông sản và đồ thủ công. Phương tiện đủ loại: xe tải, máy kéo, xe ngựa, xe la, thậm chí xe đẩy tay, xe cút kít… cái gì cũng có.
Buổi sáng chạy bộ, Kiều Vi và Nghiêm Lỗi đã thấy thấp thoáng rất nhiều người tụ tập ngoài bờ sông.
“Tứ Bình Hương nổi tiếng đồ tre,” Nghiêm Lỗi nói với Kiều Vi, “loại ghế nhỏ chắc chắn có, còn loại to thì phải xem vận may. Nếu không có, tuần sau anh đi Thanh Sơn trấn mua cho em.”
Người đàn ông này nói được là làm được.
Kiều Vi vui vẻ gật đầu: “Được. Cứ ra chợ xem trước, biết đâu có.”
Cả nhà ba người xách giỏ, cầm túi lưới, vui vẻ đi về phía bãi sông.
Dọc đường toàn là người đi chợ, từng gia đình một, cả người lớn lẫn trẻ con, ai nấy đều cười nói rôm rả. Ở thời đại này, họp chợ thật sự là một hoạt động vừa náo nhiệt vừa đáng mong chờ.
Gần như có thể xem là một dịp giải trí lớn.
Tới nơi, Kiều Vi lần đầu tiên thấy cảnh đông người đến vậy từ khi xuyên qua, người chen người trên bãi sông rộng lớn.
Không chỉ dân trong trấn, mà cả người từ các công xã xung quanh đến bán hàng cũng đông nghịt.
Ở đây gần như không có hàng công nghiệp, phóng mắt nhìn toàn là nông sản và đồ thủ công — đúng gu của Kiều Vi.
Cô đi qua vài sạp là không nhấc chân nổi, cái này sờ thử, cái kia xem kỹ. Chẳng mấy chốc, cái giỏ mua rau đã đầy.
Nghiêm Lỗi chen qua kéo cô lại: “Hỏi được rồi, khu của Tứ Bình Hương ở bên kia.”
Ghế tre nằm là mục tiêu chính hôm nay, Kiều Vi đành tạm bỏ mấy món trước mắt, kéo Nghiêm Tương đi theo Nghiêm Lỗi.
Tứ Bình Hương quả nhiên bày kín đồ tre. Sọt tre, giỏ tre, chổi tre… ghế tre bày thành từng mảng lớn, rõ ràng rất được ưa chuộng.
Vận may không tệ, phía sau một dãy ghế, Kiều Vi liếc mắt đã thấy hai chiếc ghế tre nằm! Lại còn là loại gấp được!
“Đúng không?” Nghiêm Lỗi quay đầu hỏi, “có phải loại em muốn không?”
“Đúng đúng đúng, chỉ có hai cái, mau mua!” Kiều Vi lập tức kéo tay anh, “lấy cả hai.”
“Một cái không đủ em dùng à?” Nghiêm Lỗi ngạc nhiên.
Kiều Vi trừng anh: “Ngốc thật, tối mùa hè hai vợ chồng mỗi người một cái, ngồi dưới mái hiên ăn dưa nói chuyện không vui sao?”
Ánh mắt long lanh, nụ cười dịu dàng. Tim Nghiêm Lỗi chợt đập nhanh. Chỉ cần tưởng tượng cảnh đó thôi cũng đã thấy ấm áp.
“Được, lấy cả hai!”
Nghiêm Lỗi nhanh ch.óng trả giá, mua xong quay lại nói: “Anh đưa về trước.”
Nhưng Kiều Vi lại chỉ một món khác: “Cái kia là gì?”
Cũng là đồ tre, cao tầm bàn thấp, hình chữ nhật, khung tre, mặt là nan đan giống chiếu.
Nghiêm Lỗi nghĩ thầm người thành phố đúng là cái gì cũng thấy lạ: “Giường tre mát đó.”
Mùa hè nhiều người dùng để ngủ, cũng hay đặt ngoài ruộng cho người canh đồng nghỉ.
Kiều Vi bước tới ấn thử, mặt tre có độ đàn hồi nhẹ. Cô ngồi thử, thấy rất dễ chịu.
“Cái này,” cô vỗ vỗ, “tôi lấy cái này.”
Sau buổi chạy sáng, khí sắc cô rất tốt. Ngồi trên giường tre, ngẩng đầu nhìn anh, ánh mắt đầy mong đợi.
Nghiêm Lỗi lập tức quay sang hỏi giá. Cuối cùng, anh vác một cây chổi tre lớn, xách cái giỏ đã đầy của Kiều Vi, dặn: “Hai người đừng đi lạc.”
“Có cái này rồi.” Kiều Vi giơ cổ tay lên.
Vì Nghiêm Tương còn nhỏ, cô buộc một sợi dây nối cổ tay hai mẹ con — chống lạc.
Thế là Nghiêm Lỗi dẫn người Tứ Bình Hương, dùng xe ba gác chở giường tre và hai ghế nằm về nhà trước.
Về tới nhà, anh chỉ huy người khiêng ghế tre cùng chõng tre dỡ xuống. Ghế tựa được xếp gọn dưới mái hiên, còn chiếc chõng tạm để giữa sân, đợi Kiều Vi về xem cô muốn đặt chỗ nào rồi mới tính tiếp. Anh lại đem giỏ đồ lặt vặt Kiều Vi mua bỏ vào trong phòng, để không cái giỏ mây để lát nữa mang trả lại cho cô.
Đang định ra cửa đi chợ tìm vợ con, ngoài cổng đã có người tới, cất giọng hỏi lớn: “Có phải nhà họ Nghiêm không?” Nghiêm Lỗi từ trong phòng bước ra: “Đúng là tôi.”
Người tới là một anh đồng hương, oang oang hỏi: “Vợ anh họ gì?” Nghiêm Lỗi đáp: “…… Họ Kiều.”
“Đúng rồi. Đúng là nhà anh không sai.” Anh đồng hương cởi dây thừng trước n.g.ự.c, dỡ món đồ trên lưng xuống, “Vợ anh bảo tôi đưa tới đây.”
Đó là một chiếc tủ mây nhỏ có hai cánh cửa. Nghiêm Lỗi mở tủ ra xem, bên trong chia làm ba tầng như kệ sách, phía trên còn có hai cái ngăn kéo nhỏ. “Cái này dùng làm gì?” Anh hỏi.
“Muốn làm gì chẳng được.” Anh đồng hương nói, “Đựng bát đĩa, để quần áo hay bày sách đều ổn cả. Tùy anh thôi.”
Dứt lời, anh ta đ.á.n.h giá Nghiêm Lỗi một lượt: “Anh là cán bộ phải không?”
Nghiêm Lỗi điềm tĩnh trả lời: “Vì nhân dân phục vụ.”
Anh đồng hương nhếch miệng cười: “Cán bộ khéo nói thật. Vợ anh…… đúng là giỏi, thật biết mua đồ.”
Đại khái là định nói "thật biết tiêu tiền", nhưng đến cửa miệng lại sợ gây mâu thuẫn cho vợ chồng nhà người ta nên vội đổi thành "biết mua". Nghiêm Lỗi ưỡn n.g.ự.c, đầy vẻ tự hào: “Chứ sao nữa, tiền mình làm ra không dành cho vợ tiêu thì dành cho ai?” Anh đồng hương hít một hơi khí lạnh, giơ ngón tay cái lên tán thưởng: “Cái tầm này, đúng là phong thái cán bộ có khác.”
Đồ mây tre tuy cồng kềnh nhưng thực tế rất nhẹ, Nghiêm Lỗi một tay xách bổng vào trong phòng cất trước. Anh khóa cửa rồi cùng người đồng hương hướng về phía chợ, dọc đường không ngớt lời trò chuyện.
Người đồng hương kia vốn tính hóng hớt: “Nhà anh là người thành phố à?”
Nghiêm Lỗi hờ hững đáp: “Cô ấy từng học hết cấp ba đấy.” “Chà, hóa ra là người có học thức.”
Anh đồng hương trầm trồ, “Tôi nhìn qua đã thấy cô ấy ra dáng người thành phố rồi. Còn anh, cũng người thành phố sao?”
Nghiêm Lỗi báo quê quán mình: “Tôi gốc nông thôn thôi.”
“Thế thì anh giỏi thật đấy.” Anh đồng hương lại giơ ngón tay cái, ý nói anh có bản lĩnh mới cưới được vợ là trí thức.
Nghiêm đoàn trưởng suốt quãng đường ấy lưng cứ thế thẳng tắp, mặt mày rạng rỡ.
Chỉ là tới phiên chợ, người đông khó tìm, loay hoay mãi anh mới thấy hai mẹ con ở khu bán đồ ăn vặt. Sáng sớm ra, hai mẹ con đã ngồi thưởng thức bát thạch đen mát lạnh rồi.
Nhìn thấy anh, cô còn hớn hở vẫy tay gọi anh lại cùng ngồi xuống chiếc ghế đẩu nhỏ ăn thạch đen.
“Mua gì mà lắm thế này?” Nghiêm Lỗi chống nạnh hỏi. Cái giỏ mây của Kiều Vi đã được Nghiêm Lỗi xách về nhà, nhưng giờ cô lại mua thêm cả một cái sọt tre! Hiện tại cái sọt ấy đang đặt dưới chân cô, đồ đạc bên trong cũng đã đầy ắp. Cô cũng thật là giỏi xoay xở.
“Anh biết không, anh em nông dân ăn uống còn dồi dào hơn chúng mình đấy.” Kiều Vi kéo Nghiêm Lỗi ngồi xuống chiếc ghế xếp, “Mua của họ không cần dùng đến phiếu lương thực.”
Nghiêm Lỗi sao lại không biết chuyện đó, anh đặt cái giỏ mây vừa mang tới xuống cạnh chân cô, bật cười: “Dĩ nhiên rồi, họ là người làm ra hạt gạo, chuyện ăn uống lúc nào chẳng dư dả hơn người thành phố.”
Lần đại hội chợ này, các công xã mang theo rất nhiều nông sản phụ tới bán. Kiều Vi hoa cả mắt vì toàn đồ ăn ngon. Ở đây mua bán không cần phiếu gạo phiếu thịt, chắc là mua nhiều một chút cũng chẳng ai bàn ra tán vào đâu nhỉ. “Cứ đà này, cái gì ở thành phố không có thì mình cứ về nông thôn mà mua...”
Nghiêm Lỗi kịp thời “khụ” một tiếng ngắt lời cô. Kiều Vi lập tức phản ứng lại, cô rụt cổ, mím môi thành một đường thẳng, lấm lét nhìn quanh. May thay, giữa chợ ồn ào náo nhiệt, chẳng ai để ý đến lời cô nói.
Nghiêm Lỗi kéo ghế xích lại gần cô, hạ thấp giọng: “Đừng có nghĩ vẩn vơ. Phiên chợ này là do công xã đứng ra tổ chức. Chứ em định tự mình về quê làm gì? Tìm dân làng mua riêng lẻ à?”
Kiều Vi thử thăm dò, gật gật đầu. Nghiêm Lỗi vừa giận vừa buồn cười, lấy hai đầu ngón tay chọc nhẹ vào trán cô: “Em định đầu cơ trục lợi đấy à?”
Kiều Vi lại rụt cổ: “Gắt gao đến thế cơ ạ?”
“Chứ còn sao nữa.”
Kiều Vi không phải không biết quy định, nhưng một người đến từ thế giới hàng hóa dư dật ở hậu thế như cô thật sự chưa có trải nghiệm thực tế về cái cụm từ "đầu cơ tích trữ" này.
“Có bị bắt không anh?” Cô hỏi.
“Bị phát hiện là bị bắt chắc chắn.” Nghiêm Lỗi hù dọa cô, “Anh không thể để em phạm sai lầm này được.”
Kiều Vi vội vàng gật đầu: “Em nhớ rồi.”
Nhìn bộ dạng như con chim cút nhỏ của cô, Nghiêm Lỗi thấy rất buồn cười. Anh nhìn quanh quất, thấy mọi người đều đang mải mê mua bán, đi lại lộn xộn, chẳng ai chú ý đến bên này. Anh liền ghé sát tai Kiều Vi, nói khẽ bằng giọng thật lòng: “Lúc nào thực sự muốn mua thì phải cơ linh một chút, đừng để bị tóm.”
Mắt Kiều Vi bỗng sáng rực lên, cô liếc anh một cái đầy ẩn ý. Quả nhiên kẻ nhát gan thì chẳng làm nên chuyện lớn. Những người leo lên được vị trí cao chưa bao giờ là những kẻ chỉ biết rập khuôn, thủ cựu.
Nghiêm Lỗi vờ như không có chuyện gì, gắp một đũa thạch đen cho vào miệng. Anh chạy bộ một quãng đường dài, lại còn chen chúc trong đám đông tìm vợ con nên người đã đẫm mồ hôi. Ngồi dưới bóng cây ăn bát thạch mát lạnh thế này thật đúng là sảng khoái.
Thời này, mọi hoạt động mua bán tư nhân không thông qua nhà nước đều bị coi là đầu cơ. Nhưng nhu cầu của nhân dân vẫn nằm đó, khi kinh tế kế hoạch chưa đáp ứng đủ thì những cuộc giao dịch “ngầm” vẫn luôn tồn tại, dù có truy quét thế nào đi nữa. Ai cũng hiểu ngầm điều đó, miễn là đừng để bị tóm tận tay.
“Vạn nhất bị phát hiện thì làm thế nào?” Kiều Vi khiêm tốn thỉnh giáo.
“Thế nên anh mới bảo bản lĩnh cách mạng của emcòn non lắm.” Nghiêm Lỗi chê khéo, nhưng vẫn chỉ cho cô một con đường sáng: “Chạy. Có thể chạy nhanh bao nhiêu thì chạy bấy nhiêu.”
Kiều Vi cười đến mức người ngả nghiêng: “Được, em sẽ luyện chạy bộ.”
Bữa trưa của cả nhà cũng giải quyết ngay tại chợ. Nghiêm Lỗi một mình đ.á.n.h chén bốn cái bánh nướng lớn, Kiều Vi ăn một cái là no, còn bé Nghiêm Tương chỉ ăn nổi nửa cái. Nghiêm Lỗi ăn nốt phần thừa của con, nhất quyết không lãng phí hạt gạo nào.
Lần đầu đi dạo chợ phiên, thấy các mặt hàng hầu hết là đồ thủ công mang đậm hơi thở đồng quê, Kiều Vi thấy gì cũng muốn mua. Niềm vui sướng khi được mua sắm hiện rõ mồn một qua ánh mắt và nét mặt cô.
Nghiêm Lỗi cứ nhìn vợ mãi, cảm thấy đôi mắt cô như lấp lánh ánh sao, gương mặt cũng bừng sáng hẳn lên. Cô thích mua gì anh cũng chiều, chẳng ngăn cản nửa lời.
Chỉ đến khi Kiều Vi định mua cả sấp vải dệt thủ công thì anh mới khẽ cản: “Mua cái này... làm gì thế?”
Trước đây cô toàn lên huyện hoặc ra bách hóa thành phố mua quần áo may sẵn. Cửa hàng cung tiêu trên thị trấn cũng có bán, nhưng đồ ở nơi lớn vẫn đa dạng màu sắc và kiểu dáng hơn. Cô vốn chẳng bao giờ để mắt tới mấy loại vải mộc hay vải chàm tự dệt thô sơ này.
“Em có việc cần dùng.” Cô đáp.
Thôi được, cô thích thì cứ mua vậy. Nhưng đến khi cô đòi mua cả loại giày vải thô mà các bà lão dưới quê hay đi, Nghiêm Lỗi lại cản tiếp: “Hay là để lên thành phố, anh mua cho em đôi giày da mới.”
“Đôi này đi êm chân mà anh.” Cô nói.
Thôi được, mua. Nhưng đến khi Kiều Vi muốn mua cả giày rơm thì Nghiêm Lỗi thực sự không nhịn nổi nữa: “Cái này em không đi được đâu. Nó cứa rách da chân mất. Chỉ những người chân có vết chai dày mới đi nổi thôi.”
“Em biết mà.” Kiều Vi cười tủm tỉm, “Cái này em định treo lên tường trang trí. Ái chà, đằng kia có bán nón lá kìa, em còn muốn mua cả nón lá nữa. Kìa, bên kia có mũ rơm, mũ rơm cũng đẹp, anh đi mua đi!”
Cô vừa nói vừa đẩy Nghiêm Lỗi giục giã. Nghiêm Lỗi hết cách, đành phải chen vào đám đông mua mũ rơm cho vợ. Kiều Vi ở bên này trả tiền mua đôi giày rơm. Quay đầu lại đem mũ rơm cùng giày rơm treo dưới mái hiên, chẳng phải là có ngay cái chất điền viên sao.
Đang lúc vui vẻ, bỗng nghe thấy có người gọi mình, quay lại nhìn, Kiều Vi reo lên: “Tiểu Trương à. Sao lại thế này... sao lại đi cùng Tiểu Lâm thế kia?” Kiều Vi vừa cười vừa nói, ánh mắt lại liếc về phía Lâm Tịch Tịch đứng cạnh Tiểu Trương. Lâm Tịch Tịch vẫn mặc chiếc váy hôm qua. Cũng thường thôi, thời này chẳng ai thay quần áo xoành xoạch mỗi ngày, nếu làm thế thì bị coi là lối sống tư sản hủ bại mất. Lúc này mượn đồ của nhau, một bộ mặc mấy ngày là chuyện thường tình.
Cậu tài xế Trương rất muốn nói điều gì đó, kiểu như một lời "tuyên bố chính thức" vậy. Nhưng Lâm Tịch Tịch khẽ ho một tiếng chặn lại. Tiểu Trương đành nói lảng đi: “Vâng, vâng... thì bọn em đi dạo, đi dạo một chút thôi ạ.”
Nói đi cũng phải nói lại, hai người họ hiện giờ vẫn chưa chính thức hẹn hò. Tối qua, trong số những người được Trung đoàn trưởng Triệu kéo đến xem mắt Lâm Tịch Tịch, Tiểu Trương là người có quân hàm thấp nhất. Nhưng cậu ta lại là tài xế, cái nghề biết lái xe thời này quý giá lắm, sau này chuyển ngành cũng chẳng lo thiếu việc.
So với những người khác, cậu ta còn có ưu thế là thời gian linh hoạt, ra vào tự do. Mấy anh chàng kia muốn ra khỏi doanh trại đều phải xin phép, hôm qua đi xem mắt tập thể là do Chính ủy đặc cách. Còn Tiểu Trương thì không cần, cậu ta tự sắp xếp được.
Thế nên cái cậu chàng lanh lợi này sáng sớm nay đã chạy tới nhà Trung đoàn trưởng Triệu nịnh nọt: “Hôm nay có chợ phiên, để em đi cùng các bác cho, còn giúp các bác khuân vác đồ đạc nữa.”
Vợ chồng Trung đoàn trưởng Triệu nghe thế thì mừng lắm. Vì tối qua Lâm Tịch Tịch cũng đã ưng ý Tiểu Trương. Thấy đàng trai sốt sắng tự tìm đến, họ cũng chẳng cần phải chủ động nói chuyện "gả cháu gái" làm gì.
Trung đoàn trưởng Triệu bảo: “Tôi với nhà tôi sẽ đi sau, hay là hai đứa trẻ cứ đi trước đi. Cương Tử! Anh Tử! Hoa Tử!”
Ông hô một tiếng gọi ba đứa nhỏ ra, bảo chúng: “Đi cùng chị với anh Tiểu Trương chơi cho vui.”
Bên kia, chị Dương cũng đẩy Lâm Tịch Tịch vào phòng thay chiếc váy hôm qua, lại đưa cho cô một đồng tiền, dặn nhỏ: “Cố gắng mà tìm hiểu cho tốt nhé.”
Lâm Tịch Tịch bằng mặt không bằng lòng, thay váy rồi dắt theo ba đứa em cùng Tiểu Trương ra chợ.
Còn chưa tới bờ sông, ba đứa nhỏ đã chạy mất hút, chỉ còn lại cô và Tiểu Trương. Cậu chàng họ Trương trực tiếp tỏ tình luôn: “Đồng chí Lâm Tịch Tịch, tôi tên là Trương Quốc Cường, năm nay 20 tuổi, hiện tại lương ở bộ đội là bậc 24, mỗi tháng 42 đồng, tôi biết lái xe. Mong cô... à, mong đồng chí cho phép tôi được tìm hiểu đồng chí!”