Cơn cảm của Lý Trì Thư quả nhiên nặng hơn vào ngày hôm sau. Trước khi ra khỏi nhà, tôi kiểm tra thân nhiệt cho cậu ấy, không sốt, chắc nghỉ ngơi thêm một ngày nữa sẽ dần khỏe lại.
Cậu ấy từ viện dưỡng lão thăm bà ngoại về đã gần chiều, cả người mệt mỏi, uể oải, chẳng còn chút sức lực nào. Tôi giục cậu ấy uống t/h/u/ố/c rồi nhét vào chăn ngủ hai tiếng, đến lúc tôi gọi dậy ăn cơm vẫn chưa tỉnh.
Tôi ngồi xổm bên giường vỗ nhẹ hai cái, Lý Trì Thư mơ màng mở mắt: "Mấy giờ rồi?"
"Năm giờ." Tôi từ từ đỡ cậu ấy dậy, "Đỡ hơn chút nào không?"
Lý Trì Thư nói mình đã tỉnh táo hơn đôi chút. Nhưng cậu ấy chỉ ăn qua loa vài miếng rồi đặt đũa xuống, ngồi thẫn thờ một mình trên ghế. Một lát sau, cậu ấy bỗng lên tiếng: "Thẩm Bão Sơn, tôi muốn xem ảnh cậu chụp cho tôi."
Tôi lấy điện thoại ra, Lý Trì Thư lật qua lật lại hai tấm ảnh tôi chụp cho cậu ấy, cười hơi tiếc nuối: "Tôi không có tấm ảnh nào của cậu cả."
Tấm ảnh đầu tiên Lý Trì Thư có được về tôi trong đời là ảnh tốt nghiệp tập thể của lớp hai mươi mốt vào ngày tốt nghiệp. Chiều hôm đó cậu ấy đến văn phòng lấy ảnh cho cả lớp, nhìn thấy chồng ảnh màu dày cộp đã đóng kín trên bàn làm việc đối diện giáo viên chủ nhiệm, trong lòng bỗng dấy lên những cảm xúc mãnh liệt.
"Nếu dũng cảm hơn một chút, tôi đã có thể lấy được tấm ảnh đầu tiên thuộc về cậu." Lý Trì Thư nhiều năm sau nói câu này khi trong tay nắm một tờ giấy photocopy màu, "Lúc đó tôi nghĩ, có lẽ đây là cơ hội duy nhất trong đời tôi có thể giữ lại thứ gì đó của cậu."
Nhưng sự giáo dưỡng và lòng tự trọng bẩm sinh của Lý Trì Thư đã ngăn cản d/ụ/c vọng lén rút một tấm từ chồng ảnh đó của cậu ấy.
"Nếu tôi lấy một tấm, hoặc dùng ảnh lớp hai mươi lăm thay thế một tấm của lớp cậu, thì sẽ có một bạn học của cậu mất ảnh tốt nghiệp." Lý Trì Thư lắc đầu, "Mỗi người chỉ có một tấm, tôi không thể làm vậy."
Thế là nhân lúc buổi chiều vắng người, cậu ấy nhanh ch/óng lấy một tấm ảnh trên bàn của giáo viên chủ nhiệm lớp tôi, rồi dùng mười phút cuối trước giờ tự học chạy đến tiệm in dưới tòa nhà dạy học, dưới ánh mắt kỳ lạ của chủ tiệm, xin người ta in cho một bản photocopy màu. Cậu ấy chỉ cần in trên giấy thường là được, không ép plastic, không rửa ảnh, chỉ photocopy màu thôi.
Photocopy màu đắt gấp mấy lần photocopy đen trắng. Trên đường đi, Lý Trì Thư đã đấu tranh rất nhiều lần, nhưng vì trên ảnh có Thẩm Bão Sơn, cậu ấy quyết định dành một trong số ít lần dám tiêu tiền thời trẻ cho người ấy.
Tờ photocopy màu kém chất lượng ấy đã được Lý Trì Thư nâng niu suốt mười hai năm, cất giữ biết bao giấc mộng đẹp về một người luôn nở nụ cười nhàn nhạt.
Tôi cầm điện thoại mở camera: "Bây giờ chụp với cậu một tấm."
Lý Trì Thư cười tránh đi: "Bây giờ không được."
"Tại sao?"
"Đang bệnh, chụp ra không đẹp."
"Nói bậy," tôi đưa tay kéo cậu ấy, "Tiểu Bảo thế nào cũng đẹp."
Lý Trì Thư vẫn không chịu qua: "Để lần sau đi, Thẩm Bão Sơn. Tấm ảnh đầu tiên phải chụp cho t/ử tế mới được."
"Được thôi." Tôi thấy cậu ấy không chịu đồng ý đành thôi, "Lần sau... chúng ta chụp lúc dã ngoại, bảo Tưởng Trì dùng máy ảnh chụp cho chúng ta."
"Ừ." Lý Trì Thư lại bưng bát lên, ăn từng miếng một, nhìn cơm trong bát bỗng lên tiếng, "Chụp xong in ra, để vào ngôi nhà sau này của chúng ta."
Động tác bưng bát của tôi khựng lại.
Lý Trì Thư đang nói với tôi về ngôi nhà sau này.
"Được thôi." Tôi cố nén những gợn sóng trong lòng, bình thản gắp một miếng thịt gà vào bát cậu ấy. Đôi đũa lại vô tình chạm vào thành bát, phát ra mấy tiếng leng keng. "Thế cậu muốn đặt ảnh ở đâu?"
Lý Trì Thư ngước mắt nhìn ra ngoài cửa sổ, suy nghĩ một lúc: "Ừm... đầu giường nhé. Trên tủ đầu giường, hoặc trên bàn học. Cậu thấy sao?"
"Được, chỗ nào cũng được." Tôi đáp, "Hay là in thêm một tấm thật lớn, treo lên tường."
Lý Trì Thư bật cười: "Ảnh cưới mới làm thế."
"Vậy sau này chúng ta đi chụp ảnh cưới."
"Hai chúng ta thì chụp ảnh cưới kiểu gì được?"
"Sao lại không được? Cậu còn định kéo cả Tưởng Trì theo à?"
Lý Trì Thư bất lực nhìn tôi: "Không phải..."
Tôi nhìn quầng thâm xanh nhạt dưới mắt cậu ấy, dấu vết của những đêm dài ngủ không ngon quanh năm, rồi chợt hỏi: "Lý Trì Thư, học kỳ sau cậu có muốn chuyển đến ở cùng tôi không?"
Sáng mùng bốn Tết, phòng giáo vụ đã làm việc. Tôi cùng Lý Trì Thư liên hệ nhà trường làm thủ tục trả phòng ký túc xá. Ngày trước khai giảng, cậu ấy mang hành lý cực kỳ đơn giản và chiếc cặp sách nặng trịch bước lên con đường về nhà cùng tôi.
Lý Trì Thư đồng ý đến nhà tôi ở tạm đương nhiên không thoát khỏi sự dụ dỗ lừa gạt của tôi. Điều kiện tiên quyết là nửa năm tới bố mẹ tôi đi công tác dài hạn ở nước ngoài không về nhà, Lý Trì Thư không phải đối phó với mối quan hệ xã hội mà cậu ấy đau đầu nhất. Thứ hai là ký túc xá và nhà cậu ấy thật sự quá lạnh, túi nước nóng dùng mấy năm của Lý Trì Thư cũng hỏng rồi, khai giảng lại là mấy tháng trời lạnh ngủ không ngon. Tôi mòn cả lưỡi cân nhắc lợi hại trước mặt cậu ấy, cuối cùng lấy lý do "đến nhà tôi ở ngày nào cũng được gặp Thổ Đậu" làm ưu thế lớn nhất khiến cậu ấy xuôi lòng.
Tôi và Lý Trì Thư đi bộ qua cổng khu chung cư dành cho xe. Bên trong là một con đường quanh co men theo sườn núi, cạnh vách núi có trồng một hàng thông già. Hôm nay không đi xe, trời vừa mưa xong, khu chung cư mù sương. Cậu ấy từ khi bước vào cổng đã rõ ràng căng thẳng, càng cúi đầu im lặng, ngay cả bước chân cũng có sự nghiêm ngặt không muốn giẫm sai sàn.
"Lý Trì Thư," tôi gọi cậu ấy, "Lát về nhà muốn ăn gì? Tôi làm cho."
"Ừm... gì cũng được." Cậu ấy mím môi, lại nhìn cặp sách của mình trên vai tôi, "Nặng không? Hay để tôi đeo."
"Không nặng." Tôi né vai, nắm tay cậu ấy đưa qua trong lòng bàn tay, "Cảm đỡ hơn chưa, mũi xì đến trầy da rồi."
Cậu ấy sờ nhân trung đỏ của mình, nhìn cây xanh xung quanh một lúc, Thổ Đậu từ phía sau chạy lên vòng quanh Lý Trì Thư, khiến cậu ấy thả lỏng hơn chút.
"Cậu thi đại học, bố mẹ không về à?" Cậu ấy hỏi.
"Không về." Tôi cười, "Họ thấy không phải chuyện lớn, cố gắng là được."
Nhiều khi, áp lực mà chúng ta cảm nhận được lại đến từ sự kỳ vọng của người khác. Bố mẹ tôi hiểu điều đó từ rất sớm, nên chưa bao giờ gây áp lực cho tôi về những chuyện vốn không cần phải quá coi trọng. Không xuất sắc không sao, cố gắng là được. Kết quả cuối cùng thế nào họ đều vui vẻ chấp nhận.
Ngược lại, những thứ mẹ ruột tôi vô cùng coi trọng, ví dụ năm tám tuổi tôi t/ùy tiện tham gia cuộc thi nhảy đường phố đầu tiên, lần đầu một mình ra nước ngoài học trượt tuyết, năm mười hai tuổi tự học cắt ghép làm video chúc mừng sinh nhật cho bà, cuộc thi piano giành quán quân, hoặc năm mười tuổi lần đầu biểu diễn đường phố với bạn bè... những khoảnh khắc này bà gần như đều kết thúc công việc hoặc công tác sớm mà đến, chưa từng vắng mặt, chỉ để chụp cho tôi một tấm ảnh ghi lại.
Phòng đàn trong nhà đã sớm treo đầy dấu vết những khoảng thời gian không quá quan trọng nhưng thỉnh thoảng nhớ lại cũng khá vui vẻ từ nhỏ đến lớn của tôi.
Lý Trì Thư từng nói tôi là người không thiếu tình yêu. Năm cậu ấy nói câu này còn chưa từng gặp bố mẹ tôi một lần. Tôi hỏi cậu ấy sao nhìn ra được, cậu ấy thậm chí chưa từng tiếp xúc với bất kỳ ai cho tôi tình yêu.
Cậu ấy hỏi ngược tôi: "Cậu từ nhỏ đến lớn, có lúc nào rất căng thẳng không?"
Tôi nghĩ rất lâu: "Lần đầu tiên với cậu có tính không? Tôi sợ mình thể hiện không tốt, khiến cậu không hài lòng. Ngoài ra hình như không có."
Lý Trì Thư cứ cười.
Cười xong cậu ấy nói: "Thẩm Bão Sơn, cậu là người thoải mái. Người chưa bao giờ thiếu tự tin để mắc lỗi mới thoải mái."
Trong đời, tôi có vô số cơ hội để thử và mắc lỗi. Dường như từ nhỏ, bố mẹ đã cho tôi quyền được phép sai lầm — không sao, mắc lỗi tôi vẫn là đứa con họ yêu nhất, kết quả mắc lỗi họ cũng rất thích, sau khi mắc lỗi tôi vẫn nhận được lời khen như khi thành công.
Có lẽ ông trời luôn giữ một sự cân bằng nào đó giữa những điều tốt đẹp và bất hạnh trong đời mỗi người. Tôi lớn lên trong một gia đình đầy tình yêu thương, được trao vô số cơ hội để phạm sai lầm rồi sửa chữa. Còn Lý Trì Thư, người chưa từng được yêu thương đầy đủ, lại chẳng cho tôi dù chỉ một cơ hội để mắc lỗi. Chỉ cần tôi lơ là một lần, tôi có thể vĩnh viễn mất cậu ấy.
Rồi ông trời cho tôi được sống lại, nhưng cũng bắt tôi phải sống những ngày tháng như đi trên băng mỏng. Tôi không còn được phép t/ùy tiện hay thảnh thơi như trước, lúc nào cũng phải cẩn thận, không dám lơ là với Lý Trì Thư dù chỉ một chút. Chỉ khi ấy, tôi mới có thể được tha thứ. Ông trời quả thật công bằng.
Lý Trì Thư không biết mạch suy nghĩ lại lệch ở đâu, im lặng nửa ngày mới hỏi tôi: "Là vì... cậu sắp ra nước ngoài à?"
"Gì cơ?"
Môi cậu ấy động đậy, lại lặp lại một lần, mắt cúi thấp: "Là vì... cậu sắp ra nước ngoài học đại học à? Nên họ mới không coi trọng kỳ thi đại học của cậu."
"Không phải—" tôi dở khóc dở cười, "Cậu cả ngày lo lắng cái gì vậy? Tôi ra nước ngoài không bàn với cậu trước sao? Cậu muốn đi đâu thì tôi sẽ đi đến đó. Họ chỉ đơn thuần thấy tôi thi tốt thi xấu đều không sao thôi."
Lý Trì Thư gật đầu: "Vậy à."
Qua ga ra vào nhà, tôi dẫn Lý Trì Thư lên lầu. Cậu ấy vào thang máy chắc thật sự không nhịn được: "Nhà cậu... đều đi thang máy à?"
"Có cầu thang." Tôi nói, "Nhưng nghĩ cậu không khỏe, nghỉ sớm, nên đi thang máy lên tầng hai thôi. Sau này nhà chúng ta cũng lắp thang máy."
"Nhà sau này của chúng ta..." Cậu ấy từ nút thang máy tầng âm hai đếm lên, "Cũng phải ở nhà năm tầng à?"
Cậu ấy dừng lại: "Nếu cậu muốn ở, chúng ta có thể mua muộn hơn. Tôi chắc phải tiết kiệm thêm mấy năm..."
Tôi véo sống mũi, bất lực cắt ngang những lo lắng này của cậu ấy: "Nhà một tầng cũng có thể thang máy vào nhà mà, Lý Trì Thư."
Cậu ấy quá không tự nhiên.
Tôi véo vai cậu ấy: "Từ từ tìm hiểu mà, dù sao ngôi nhà này, mấy chục năm sau Tết lễ đều phải về."
Lý Trì Thư: "Hả?"
Tôi quay đầu đi cười, nghĩ cậu ấy da mặt mỏng, không nói tiếp.
Khai giảng xong, cơn cảm của Lý Trì Thư coi như khỏi hẳn, chỉ là vẫn đang tháng Giêng, lúc lạnh nhất, trời tối sớm sáng muộn. Mỗi sáng tôi và Lý Trì Thư ngồi xe ra khỏi cửa, đèn đường vẫn còn sáng, đường phố vẫn chìm trong bóng tối.
Tôi nhiều năm có thói quen chạy buổi sáng, mỗi thứ hai ba năm, đến ba mươi tuổi gần như vẫn duy trì. Thêm mấy năm đó Lý Trì Thư sức khỏe không tốt, trên giường có chút động tĩnh tôi đều tỉnh dậy xem cậu ấy có khó chịu không, nên năm giờ sáng dậy với tôi không khó.
Nhưng Lý Trì Thư bây giờ thì không được. Kỳ nghỉ vì trời lạnh, cậu ấy thỉnh thoảng ngủ nướng đến bảy tám giờ, quen một hai tuần, giờ khai giảng lại phải về đồng hồ sinh học cũ lại thành khó.
Vì hiểu khẩu vị cậu ấy, Lý Trì Thư từ khi ở vào đã thành tôi dậy sớm vào bếp làm bữa sáng cho cậu ấy, dì giúp việc nhà cũng ngủ thêm chút. Mấy lần tôi làm xong sandwich chưa đợi người xuống lầu, lên xem, Lý Trì Thư buồn ngủ không mở nổi mắt. Sau đó, tôi dứt khoát bưng bữa sáng vào phòng gọi cậu ấy dậy.
Sáng hôm đó tôi như thường lệ bưng sữa và mì về phòng, thấy một cảnh rất buồn cười: Lý Trì Thư dậy rồi, chắc bị đồng hồ báo thức đ/á/n/h thức. Ngoài rèm trời âm u, cậu ấy ngồi trên giường, chăn chưa gỡ, nhìn là biết vừa rời gối, áo phông cũng chỉ mặc một nửa, mới xỏ hai tay áo, chưa kịp mặc xong, treo trên cánh tay, như hai cánh chim cánh cụt — Lý Trì Thư cứ thế ngồi lại ngủ.
Cậu ấy nghiêng đầu, trán gật từng cái về trước, khiến tôi nhớ cậu ấy từng kể tôi, hồi nhỏ học mẫu giáo mùa đông, bị mẹ gọi dậy tự mặc quần áo, đợi mẹ làm bữa sáng thì lén ngủ gật trên giường như vậy.
"Quần áo vừa dày vừa nặng, lúc đó tôi hơn ba tuổi, mặc vào tay còn không cong được, khoác trên chăn, như con cánh cụt." Cậu ấy nói.
Đợi mẹ cậu ấy làm xong bữa sáng về, liền kẹp nách cậu ấy bế vào lòng, vừa bế qua ăn cơm, vừa dỗ Tiểu Bảo tỉnh dậy.
Tôi đặt sữa và bát lên bàn, ngồi xuống mép giường, luồn qua cánh tay Lý Trì Thư ôm cậu ấy.
Đầu cậu ấy tựa trên vai tôi, tôi vỗ lưng cậu ấy nhẹ nhàng gọi: "Tiểu Bảo... dậy thôi."
Cậu ấy phát ra tiếng mơ hồ.
Tôi nghiêng tai qua, tay vẫn vỗ nhẹ: "Tiểu Bảo nói gì?"
Lý Trì Thư tựa vào tôi nửa tỉnh nửa mơ: "... Mẹ."
Tay tôi khựng lại, Lý Trì Thư cũng lúc này tỉnh táo, người hơi cứng, trong lòng tôi ho một tiếng, từ từ rút ra.
Cậu ấy xoa mắt, nhìn ra cửa sổ, khá che đậy tự nói một mình: "Sắp muộn chưa."
"Còn sớm." Tôi cúi đầu lén cười, giúp cậu ấy mặc quần áo, "Dậy rửa mặt ăn cơm, rồi chúng ta đi học."
Lý Trì Thư vào nhà vệ sinh, tôi tiện tay giúp cậu ấy gấp chăn, vô tình lật gối, phát hiện dưới gối yên tĩnh nằm một cuốn sổ. Cuốn sổ này không khác gì các vở khác của Lý Trì Thư, nhìn ra thường xuyên lật, nhưng rất gọn gàng sạch sẽ, chỉ là quăn mép nặng.
Tôi đầu tiên tưởng là vở sai đề quan trọng hay vở ghi chép môn nào, định xem môn nào tiện giúp cậu ấy cất lại vào cặp — đồ của Lý Trì Thư từ trước đến nay rất ngăn nắp, tất cả đề và vở của một môn đều để trong kẹp riêng, rồi cùng các môn khác cất vào cặp.
Nhưng đợi tôi lật mấy trang đã nhận ra sự khác lạ.
Đây không phải vở, đây là nhật ký của cậu ấy.
Cuốn sổ không dày lắm, nhưng từ ngày bắt đầu ghi Lý Trì Thư đã dùng nó suốt bốn năm.
Nguyên nhân chỉ là nội dung nhật ký của cậu ấy nghèo nàn đáng thương — một hàng ngày tháng và thời tiết, cả ngày sống mấy chữ chỉ một hàng. Một trang hai mặt là thu nhỏ hơn nửa tháng cuộc sống của cậu ấy: ăn cơm, làm bài, hôm nay lại tiêu bao nhiêu tiền.
Mỗi ngày chỉ có vài chữ, nhưng đó không chỉ là một ngày của cậu ấy, mà là hình ảnh thu nhỏ của hơn mười năm cô độc mà tôi đã chứng kiến.
Cho đến một ngày, cách đây hai năm, cái tên Thẩm Bão Sơn bắt đầu xuất hiện trong nhật ký của cậu ấy. Từ đó, một hàng chữ thỉnh thoảng biến thành hai, ba hàng. Lý Trì Thư bình thản ghi lại những lần gặp tôi, bộ quần áo tôi mặc hôm ấy, cùng vài suy đoán ngắn ngủi về việc tôi có thể làm tiếp theo: Thẩm Bão Sơn có lẽ đi chơi bóng rổ rồi, Thẩm Bão Sơn có lẽ đi ăn rồi, Thẩm Bão Sơn hình như đã nhìn về phía tôi một lần, Thẩm Bão Sơn chắc không biết tôi.
Những dòng chữ của cậu ấy tựa một thứ quả đắng không mùi. Ngay cả trong cuốn nhật ký riêng tư nhất, cậu ấy cũng chẳng để lộ chút tình cảm nào, chỉ bình thản ghi lại từng ngày trôi qua. Đó là cuộc đời của một người bị sự im lặng và mặc cảm tự ti bủa vây, sống mãi trong bóng tối của chính mình.
"Đồ l/ừ/a đ/ả/o..." Tôi lật về phía sau, cuối cùng lật đến năm tháng trước, ngày tôi và cậu ấy gặp lại nhau ở kiếp này. Chữ dưới ngày tháng đột nhiên nhiều thành từng mảng, mắt tôi cũng dần mờ đi, "Lý Trì Thư, đồ l/ừ/a đ/ả/o này..."
Những năm sống chung, tôi từng hỏi cậu ấy có thói quen viết nhật ký không. Lúc đó tôi và cậu ấy ngồi ở nhà xem phim, nữ chính trong phim mắc bệnh mỗi ngày tỉnh dậy đều mất trí nhớ. Khi bà tóc bạc, người yêu già cũng vậy của bà mỗi ngày đến cầm cuốn sổ, dùng giọng bạn bè kể cho bà cuộc đời họ yêu nhau.
Lý Trì Thư xem xong phim nói với tôi: "Nếu tôi cũng mắc căn bệnh này thì tốt biết mấy. Tôi có thể quên hết, chỉ cần cậu kể cho tôi câu chuyện về cậu, vậy mỗi ngày ký ức của tôi chỉ có cậu. Tôi nghĩ tôi sẽ vui hơn nhiều."
Tôi nói: "Được thôi, sau này cậu bệnh, tôi cầm sổ mỗi sáng đi tán cậu."
Tôi hỏi cậu ấy: "Lý Trì Thư, trước đây cậu có thói quen viết nhật ký không?"
Lý Trì Thư nói: "Không."
Tôi hỏi: "Sao không?"
"Không có gì để viết."
Thời gian đó cậu ấy luôn chê Alprazolam bệnh viện kê không hiệu quả, mười hai giờ uống ba giờ vẫn không ngủ được, sau đổi một loại t/h/u/ố/c ngủ mạnh. Lý Trì Thư xem phim uống nửa viên, lúc trò chuyện với tôi dần buồn ngủ: "Trước đây tôi mỗi ngày sống giống nhau. Ngày nào cũng giống ngày nào, chỉ cần viết nhật ký một ngày là đủ tóm gọn mười năm cuộc đời. Mỗi ngày viết không gọi là viết nhật ký, gọi là phạt chép."
Tôi bị cậu ấy chọc cười, Lý Trì Thư ngửa đầu dựa vào lòng tôi nhắm mắt.
Tôi cúi nhìn khuôn mặt không có chút huyết sắc của cậu ấy, đột nhiên hỏi: "Nếu về được mười năm trước, cậu sẽ làm gì?"
Lý Trì Thư lâu không lên tiếng, tôi tưởng cậu ấy ngủ rồi.
Kết quả lông mi cậu ấy lại động, nói: "Trước tìm Lý Trì Thư mười tám tuổi, bảo cậu ấy bây giờ đi tìm Thẩm Bão Sơn, nói với cậu ấy đừng sợ, Thẩm Bão Sơn rất dễ tiếp cận."
"Rồi sao?" Tôi hỏi.
Lại rất lâu.
"Rồi..." Lý Trì Thư nói gần như thì thầm trong mơ, "Xin lỗi cậu ấy đi. Xin lỗi Lý Trì Thư mười tám tuổi... đã cố gắng sống như vậy."
Lý Trì Thư ra khỏi nhà vệ sinh, tôi vừa hay đặt nhật ký về chỗ cũ. Cậu ấy ngồi xuống ăn sáng với tôi một lúc, bỗng ngước lên nhìn tôi nửa ngày.
"Làm gì?" Tôi giả vờ không hiểu hỏi.
Cậu ấy gắp miếng mì lại đặt về bát: "Mắt cậu... sao hơi đỏ?"
Tôi đưa tay dụi khóe mắt: "Còn đỏ à? Vừa rồi rơi một sợi lông mi vào, khó chịu c/h/ế/t tôi."
Lý Trì Thư ghé lại: "Lấy ra chưa? Bây giờ còn khó chịu không?"
"Cậu nói lại hơi có." Tôi rút hai tờ khăn giấy, chấm khóe mắt rồi hít sâu một hơi, giục cậu ấy, "Mau ăn mì."
Đến lúc vào thang máy Lý Trì Thư còn thò đầu nhìn mắt tôi, tôi chuyển chủ đề, chỉ vào màn hình hiển thị của thang máy: "Bây giờ xuống lầu có năm giây, nếu cậu còn buồn ngủ có thể ôm tôi ngủ thêm ba giây."
"Hai giây còn lại thì sao?" Lý Trì Thư hỏi.
"Hai giây còn lại để hôn tôi."
Nói xong tôi nhanh cúi xuống hôn cậu ấy một cái, rời Lý Trì Thư thì cửa thang máy vừa mở.
Tôi kéo cậu ấy đi ra: "Cậu xem, có vừa đúng không."
Năm lớp mười hai trôi qua thật nhanh, mùa xuân cũng lặng lẽ đến. Lý Trì Thư vốn ghét trời lạnh. Khi thời tiết ấm dần lên, từng lớp quần áo được cởi bớt, tâm trạng cậu ấy cũng thoải mái hơn trông thấy.
Dã ngoại xong là lễ tuyên thệ trăm ngày. Tôi và cậu ấy in trước ảnh chung của chúng ta để đầu giường: một tấm ba người chúng ta và Thổ Đậu, một tấm tôi và cậu ấy riêng, còn một tấm chụp lúc tôi hôn cậu ấy. Lý Trì Thư sống c/h/ế/t không đồng ý tôi in, đành tạm để trong điện thoại tôi.
Dì bắt đầu mỗi ngày lên phố hoặc trong vườn nhà chọn hoa tươi nở rộ nhất cắm ở các bình hoa trong nhà. Tôi đợi thời tiết dần nóng, nhờ dì năm nay giúp tôi trồng chút dành dành trong v