Còn Tiểu Thảo giờ đã mặc áo gấm đỏ bạc, ống tay rộng thêu những đóa hải đường lớn bằng miệng bát.
Tóc chải hai b/úi gọn gàng, mày kẻ son tô, toàn thân rực rỡ dáng vẻ tiểu thư quyền quý.
Nó nép bên Thôi phu nhân, nom hai mẹ con đã thân thiết lắm rồi.
Tiểu Thảo nói: “Nương, con đã trở về Tạ phủ thì Miêu Nghi cũng nên trở lại nhà của muội ấy.”
“Vả lại, xưa nay con và muội ấy chẳng hợp nhau.”
Cô bé được gọi là Tiểu Miêu Nghi có gương mặt mịn trắng như đậu hũ non.
Nó không biện bạch lấy một lời, chỉ nhìn Thôi phu nhân không chớp mắt, dường như mong tìm được chút lưu luyến nơi người từng nuôi mình.
Nào ngờ người ấy lại lạnh lùng quở trách: “Nghiệt chướng, đừng nhìn ta như thế!”
“Tạ phủ đã nuôi ngươi mười một năm, thế còn chưa đủ ư?”
Mặt Miêu Nghi thoắt trắng bệch, nước mắt ứ nơi hàng mi, giọng nghẹn đi khi hỏi: “Mẫu thân… người thật sự không muốn có Miêu Nghi nữa sao?”
Thôi phu nhân không đáp mà quay sang ta: “Đây là con gái ruột của ngươi, có cần thử m/á/u nhận thân không?”
Ta chỉ biết thở dài.
Cần chi phải thử, cặp mắt hoa đào kia vừa nhìn đã nhận ra giống hệt cha ruột nó.
Ta gần như chắc chắn đây là đứa con năm xưa mình đã sinh.
Nhưng trước lúc nhận con, ta vẫn muốn hỏi cho rõ một điều.
“Ngươi quả quyết không giữ đứa nhỏ này nữa ư?”
Thôi phu nhân nhíu mày chán ghét: “Chim gáy chiếm tổ chim khách, ta giữ nó làm gì?”
“Nếu chẳng có mẹ con ngươi thì ta đâu phải xa cách Duyên Ngọc từng ấy năm!”
“Ta dốc công dạy con gái ngươi đàn, cờ, chữ, vẽ, cả thơ rượu hoa trà, còn con gái ta được ngươi dạy những gì?”
Nàng dừng một nhịp rồi cười mỉa: “Chúc nương t/ử, chẳng lẽ từ nay ngươi định cho nó theo mình mổ heo?”
Duyên Ngọc.
Hóa ra Tiểu Thảo bây giờ mang tên Tạ Duyên Ngọc.
Cái tên êm tai biết bao, hay hơn Tiểu Thảo đến vạn lần.
Thôi phu nhân quả có tài nói lời cứa lòng, ta nhất thời chẳng cãi lại nổi.
Nàng đưa Tiểu Thảo đi, từng bước một xa dần.
Còn Tạ Miêu Nghi cứ đứng c/h/ế/t lặng, dõi theo bóng họ, hai mắt ầng ậc nước mà nhất quyết không khóc thành tiếng.
Ta nhìn con bé, bất giác thấy giống mình ở một điểm.
Đều cứng đầu cả.
Ta quen cầm d/a/o chứ không quen dỗ dành trẻ nhỏ, lại càng không rõ Tạ Miêu Nghi có bằng lòng ở lại cùng ta.
Con bé đứng mãi bên ngưỡng cửa, không nói năng, thỉnh thoảng còn kiễng chân nhìn con đường họ vừa đi.
Ta chẳng biết an ủi thế nào, đành vào bếp chuẩn bị cơm.
Trong nhà lúc nào cũng có nồi canh xương heo được ninh kỹ, nước đục trắng màu sữa, trên mặt lấp lánh một màng mỡ mỏng.
Ta nhóm lửa lớn cho canh sôi, thả từng lát thịt heo thái mỏng vào; gặp nước nóng, miếng thịt lập tức cuộn tròn.
Hương thịt thơm lừng bắt đầu tràn cả gian bếp.
Ta đem đậu hũ áo qua bột mì rồi rán trên lửa vừa cho vàng ruộm.
Cá diếc được chiên trong chảo dầu nóng, sau đó kho nhỏ lửa với muối, rượu, giấm, hoa tiêu, vỏ quýt và đậu đen cho ngấm.
Ta còn nấu tam tiên viên chay, thêm một nồi cháo hạt vỡ ninh cùng táo đỏ và lê.
Ba món ăn, một món canh, một món cháo được dọn đủ lên bàn thì trời cũng vừa tối.
Ngoài cửa, Miêu Nghi vẫn ngóng theo lối cũ, chỉ là vẻ mặt đã thôi hoang mang như ban đầu.
Ta đi thay bộ áo sạch, rửa tay kỹ lưỡng rồi lại gần khẽ vỗ vai con bé.
“Vào ăn cơm nhé?”
Miêu Nghi ngẩng phắt đầu lên, ngạc nhiên một thoáng rồi ngoan ngoãn ngồi xuống ghế.
Trước mâm cơm toàn những món đậm vị, nó lúng túng chẳng biết gắp gì trước.
Cái dáng bối rối ấy lại làm ta nhớ tới gã cha ruột nho nhã của nó.
Ta đưa qua một bát cháo táo đỏ nấu lê, vị ngọt pha chua nhẹ, vừa khéo để mở đầu bữa ăn.
Ngày xưa Tiểu Thảo cũng mê thứ cháo ấy lắm.
Món canh xương béo ngọt, thịt heo cuộn rắc bột ớt thì cay tê, càng ăn càng thơm.
Đậu hũ bên ngoài giòn mà ruột mềm mượt, cá diếc thấm sốt đến độ xương cũng mềm.
Những viên tam tiên chay lại mang hương vị đậm đà riêng.
Chẳng mấy chốc, Miêu Nghi đã ăn sạch hai bát cơm.
Bắt gặp ta đang nhìn, con bé luống cuống buông đũa, má ửng đỏ ngượng ngùng.
Ta coi như không thấy, lấy đôi đũa sạch gắp thêm thức ăn vào bát nó.
“Từ kinh thành tới đây mất những hai canh giờ, con lại đứng suốt ngày, ăn thêm chút nữa cũng chẳng sao.”
“Cơm canh mà để thừa sang mai phải bỏ đi, phí lắm.”
Con bé cúi đầu, mắt dần đỏ, mãi sau mới đáp lí nhí một tiếng: “Vâng.”
Đúng là đồ ngốc.
Nhìn nó thế, ta lại nhớ Tiểu Thảo thêm một chút.
Miêu Nghi từ bé quen nếp sống rất mực quy củ.
Ta mổ xong heo ngoài sân sau, trời mới vừa hửng sáng thì con bé đã thức dậy.
Chúng ta mới chung sống, còn xa lạ, thành thử chỉ trò chuyện đôi ba câu lúc dùng bữa, ngoài ra ai ở phòng nấy.
Nó cứ quanh quẩn một mình trong phòng suốt ngày, chẳng hiểu có gì thú vị.
Ta từng định cho nó xem tay nghề mổ heo của Chúc gia, nhưng chỉ nghe tiếng heo kêu thôi, nó đã sợ xanh mặt.
Ta còn hết lòng giảng giải: “Nghề nhà ta giỏi nhất là xuống d/a/o một lần cho gọn, con heo nhiều lắm chỉ kêu đúng một tiếng rồi c/h/ế/t, chẳng chịu đau lâu đâu.”
Giải thích đến mấy, Miêu Nghi vẫn nhất quyết không xem.
Tiểu Thảo thuở trước thì trái hẳn, thậm chí đứng bên cạnh vỗ tay reo hò cho ta.
Nghĩ kỹ cũng thấy con bé ấy khác người thật.
Miêu Nghi gầy nhom, trông như mèo con ốm yếu.
Nó nói chuyện luôn nhẹ như gió xuân lướt trên mặt hồ, khiến người nghe chẳng nỡ lớn tiếng.
Có điều không sao cả.