“Thứ Sáu, chị về.”

Thu Hòa vội quay lưng đi lau nước mắt.

Tôi vác chăn đệm đi phía trước, không quay đầu thúc giục con bé.

Thu Hòa nhanh chân đuổi theo, nhỏ giọng hỏi tôi có nhớ Tiểu Mãn hay không.

“Có nhớ cũng phải để con đi học.”

“Sau này con có thể chăm sóc em ấy.”

“Con có thể yêu thương Tiểu Mãn, nhưng không được vội hứa cả cuộc đời mình chỉ để chăm sóc một người.”

“Trước hết, con phải sống cho ra cuộc đời của chính con.”

Thu Hòa nghe xong, vẻ mặt dường như đã hiểu nhưng cũng chưa thật sự hiểu hết.

Bản thân tôi cũng không biết những lời ấy có hoàn toàn đúng hay không.

Tôi chỉ không muốn hai cô bé vì quá yêu thương nhau mà vô tình biến thành một loại xiềng xích khác trói buộc cuộc đời đối phương.

Vài năm sau, tôi sinh thêm một cậu con trai.

Khi Lâm Xuyên ra đời, những quy củ trong nhà đã dần trở thành thói quen.

Lâm Đại Sơn biết thay tã, biết nửa đêm thức dậy đun nước, cũng biết nấu cơm cho hai cô bé trong những ngày tôi đi làm tiệc.

Ông ta không phải bỗng nhiên trở thành một người cha hiền từ.

Ông ta chỉ biết tôi có nguồn thu nhập riêng, có căn phòng riêng, có cả những người phụ nữ sẵn sàng cùng tôi dừng bếp.

Ông ta cũng hiểu Thu Hòa đã dần trưởng thành, không còn là đứa trẻ có thể tùy tiện đá ngã bên bậc cửa nữa.

Nhưng trong mắt Lâm Xuyên, từ khi sinh ra, người cha của nó vẫn luôn là một người dịu dàng.

Năm tuổi, thằng bé vô tình làm vỡ bình nước nóng, Lâm Đại Sơn lập tức giơ tay lên theo thói quen.

Tôi chỉ đứng trong bếp ho khẽ một tiếng, ông ta liền đổi thành bắt thằng bé tự quét dọn những mảnh vỡ.

Sau này, Lâm Xuyên từng nói với tôi.

“Cha chưa từng đ.á.n.h trẻ con bao giờ.”

Tôi không mở miệng giải thích.

Có những đứa trẻ được an toàn quá sớm, nên chúng tưởng sự an toàn ấy vốn dĩ là thứ tự nhiên sinh ra đã có.

Điều đó chưa chắc đã là chuyện xấu.

Năm Thu Hòa thi đỗ trường sư phạm, cả làng đều đốt pháo chúc mừng.

Lâm Đại Sơn uống rượu đến đỏ bừng cả mặt, gặp ai cũng khoe rằng nhờ mình quản con nghiêm khắc nên con gái mới có được tiền đồ như hôm nay.

Tôi đang đứng trong bếp xào thức ăn, nghe đến mức chiếc xẻng trong tay gần như bốc lửa.

“Ông quản nghiêm sao?”

“Con bé không bị ông đ.á.n.h đến thấp đi là nhờ tay tôi đủ nhanh đấy.”

Khách khứa lập tức cười ầm lên.

Sắc mặt Lâm Đại Sơn khó coi vô cùng, nhưng chẳng thể mở miệng phản bác.

Thu Hòa đang đứng bên cửa cũng bật cười theo.

Đợi mọi người ra về hết, con bé bước vào giúp tôi rửa nồi.

“Mẹ.”

Đó là lần đầu tiên tiếng gọi ấy được thốt ra một cách tự nhiên đến vậy.

Tôi cố ý làm vẻ thản nhiên.

“Ai là mẹ của con?”

“Ngày đầu tiên tôi bước vào nhà, chẳng phải con còn không chịu đứng ngoài cửa đón sao?”

Mặt Thu Hòa lập tức đỏ lên.

“Vậy con không gọi nữa.”

“Đã gọi rồi thì làm gì có chuyện được rút lại?”

Tôi cầm tờ giấy báo trúng tuyển lên, cẩn thận đọc từ trong ra ngoài đủ ba lần.

Phần lớn chữ trên đó tôi đều nhận ra, chỉ có tên ngôi trường trông sáng ch.ói như một tấm biển lớn.

“Sau khi ra ngoài, đừng vì nhà mình nghèo mà cúi đầu trước người khác.”

“Con biết rồi.”

“Cũng đừng vì Tiểu Mãn mà việc gì cũng nhường cơ hội của mình về phía sau.”

“Nhưng nếu chỉ có một mình mẹ…”

“Tôi không hề chỉ có một mình.”

“Chị Trần và Hà Hoa đều vẫn ở đây.”

“Cha con hiện giờ cũng đã biết nấu cơm.”

Lâm Đại Sơn đang ở ngoài sân nghe thấy, lập tức lớn tiếng phản đối.

“Tôi vốn dĩ đã biết nấu từ lâu!”

Tôi chẳng buồn quay đầu.

“Mới biết làm được mười năm mà cái đuôi đã vểnh lên tận mái nhà rồi.”

Thu Hòa cười đến mức phải cúi gập cả người.

Tiểu Mãn không hiểu mọi người đang cười điều gì, nhưng vẫn vui vẻ vỗ tay theo.

Tối hôm đó, con bé vẽ một mặt trời màu vàng thật lớn, phía dưới là hai căn nhà.

Một căn là ba gian nhà mái ngói của nhà họ Lâm.

Căn còn lại là gian phòng nhỏ nằm bên cạnh nhà chị Trần.

Tiểu Mãn không biết viết chữ nên Thu Hòa cầm b.út ghi giúp.

“Nhà của mẹ.”

Tôi đứng nhìn dòng chữ một lát rồi sửa lại.

“Đó là đường lui của chúng ta.”

Thu Hòa suy nghĩ rồi viết thêm một dòng bên cạnh.

“Có thể rời đi, cũng có thể quay về.”

Đó mới thật sự là mái nhà tôi muốn để lại cho hai cô bé.

Không phải một nơi khiến chúng cả đời không dám rời khỏi.

Mà là một cánh cửa có thể mở ra bất cứ lúc nào, để người đã bước ra ngoài vẫn còn một nơi có thể quay về đứng vững.

Tiểu Mãn sống đến năm ba mươi ba tuổi.

Bác sĩ nói với tình trạng cơ thể của con bé, sống được đến tuổi ấy đã lâu hơn rất nhiều so với dự đoán.

Tôi không thích cách người ta nói như vậy.

Nghe như mỗi năm Tiểu Mãn sống trên đời đều là thời gian vay mượn, đến lúc bệnh tật tìm tới thì con bé phải biết điều mà trả lại.

Sau khi Tiểu Mãn đổ bệnh, Thu Hòa vội vã từ thị trấn trở về, cùng con bé đi khám rồi ở lại chăm sóc trong bệnh viện.

Lâm Xuyên cũng xin nghỉ làm, chịu trách nhiệm chạy tới chạy lui làm các loại thủ tục.

Lâm Đại Sơn ngồi ngoài hành lang bệnh viện, trong tay xách một hộp giữ nhiệt đựng cháo do chính ông ta nấu.

Lúc ấy, Tiểu Mãn đã không còn nhận ra quá nhiều người, nhưng con bé vẫn nhận ra chị gái.

Mỗi lần Thu Hòa đẩy cửa bước vào, con bé đều vui vẻ nói.

“Chị về rồi.”

Lần cuối cùng cũng vẫn là câu nói ấy.

Tiểu Mãn nắm c.h.ặ.t bàn tay Thu Hòa, giọng nói nhẹ đến gần như không nghe thấy.

Thu Hòa gật đầu, bảo rằng đúng vậy, chị đã trở về rồi.

Sau đó, Tiểu Mãn chậm rãi nhắm mắt và không bao giờ mở ra thêm lần nào nữa.

Trong tang lễ, có người tới khuyên tôi nên nghĩ thoáng một chút.

“Đứa trẻ như vậy mất đi, đối với bà cũng xem như được giải thoát.”

Tôi lập tức bưng chậu nước rửa rau hắt thẳng xuống bên chân người đó.