Thấy vậy, ánh nhìn hắn tối đi.
Có lẽ đến lúc ấy Triệu Tuân mới hiểu ta đang cố tránh xa hắn đến mức nào.
Nhưng ta còn việc quan trọng hơn chuyện nghĩ đến hắn.
Qua tiết Hoa triều, những cuộc dò hỏi bấy lâu rốt cuộc đã có kết quả.
Ta tìm ra tung tích Thần phi của đời trước.
Một đêm khuya tại ngôi miếu bỏ hoang ngoài kinh thành, ta đội mũ sa che kín mặt, nghiến răng đến nỗi trong miệng thoảng vị tanh của m/á/u.
Tụ Vân, thị nữ thân tín của ta, đưa tới một thiếu nữ đang hôn mê và đã bị trói c/h/ặ/t.
Nàng bẩm: “Tiểu thư, nô tỳ đã tra xét tên họ và hộ tịch, chắc chắn chính là người này.”
Tụ Vân không hề truy hỏi vì sao ta căm hận một người chưa từng quen đến độ muốn g/i/ế/c cho bằng được.
Nàng chỉ thấy ta ôm mối thù sâu nặng, không kết thúc chuyện này thì ngày đêm chẳng thể yên lòng.
Nàng trao vào tay ta một con d/a/o găm sắc bén.
Trước khuôn mặt quá đỗi quen thuộc, ta sợ bản thân sẽ do dự nếu nghĩ ngợi lâu hơn, nên lập tức đ/â/m thẳng lưỡi d/a/o vào n/g/ự/c thiếu nữ.
Máu nóng b/ắ/n lên má khiến ta bàng hoàng ngồi sụp xuống, phải dùng khăn che lại mặt.
Pho tượng Phật sứt mẻ trong miếu vẫn đứng nghiêm trang giữa cảnh đổ nát, như lặng lẽ chứng kiến mọi điều.
Gió đêm thổi qua, cuốn những cánh hoa đỏ rụng xuống rồi vùi vào đất xuân.
Ta bất giác nhớ đến đứa con chỉ kịp ghé qua nhân thế trong nửa ngày ngắn ngủi.
Hài nhi chưa từng có tên; Thần phi lại nói nó c/h/ế/t yểu, vận mệnh chẳng lành, bởi vậy không được đưa vào hoàng lăng, chỉ lặng lẽ rời đi như cánh hoa theo mùa xuân.
Khi đứa trẻ qua đời, ta còn mê man bất tỉnh, đến một lần gặp mặt cũng chưa có, nói gì đến nhìn con lần cuối.
Ta bấu lấy mảnh lư hương vỡ ở bên cạnh, móng tay siết sâu như sắp cứa vào da thịt.
Ngực đau thắt, hơi thở đứt quãng, tiếng khóc ta cố nuốt xuống cuối cùng vẫn bật ra từng hồi nghẹn ngào.
Tụ Vân đứng sững, rồi dịu dàng vỗ nhẹ lưng ta.
Ta ở đó suốt đêm cho tới lúc trời sáng, tận mắt xác nhận người mình căm hận đã tắt thở, thân thể trở nên lạnh cứng.
Việc đầu tiên ta cần làm, cuối cùng đã hoàn tất.
Tụ Vân ở lại thu xếp t/h/i t/h/ể, còn ta mệt mỏi bước qua cửa miếu.
Mặt trời vừa lên, ánh sáng xuyên qua tán cây, xua dần lớp sương trắng dày đặc.
Ngay trong màn sương ấy, ta nhìn thấy một người đang đứng.
Hắn cao gầy, lưng thẳng như thân t/ùng, trang phục giản dị, thoạt nhìn chẳng có gì nổi bật.
Ta biết hắn là ai, nhưng ở thời điểm này hắn chưa nhận ra ta.
Tệ hơn, hắn đã nhìn thấy ta g/i/ế/c người.
Đời trước, ta nghe Triệu Tuân nhắc tới Lục Duy Ngôn không ít lần.
Năm ấy Lục Duy Ngôn đỗ Thám hoa trong kỳ thi Đình; Triệu Tuân quý trọng tài năng của hắn, tìm mọi cách chiêu mộ.
Khi còn là Ngụy Vương phi, ta từng theo Triệu Tuân gặp hắn một lần.
Lục Duy Ngôn khi đó khoác quan bào đỏ thắm, phong thái thanh nhã, dung mạo rực rỡ mà khí chất lại lạnh tựa tuyết trên núi Cô Xạ, khiến người ta khó lòng nhìn thẳng.
Triệu Tuân đã cho triệu hắn, song hắn viện cớ bận việc công, thẳng thừng từ chối, làm Ngụy Vương rất không vui.
Lần thứ hai trông thấy hắn là vào năm Hoàng Hà vỡ đê, khi hắn cùng Triệu Tuân đến vùng thiên tai cứu trợ.
Triệu Tuân đến đó để thu phục lòng dân.
Còn ta đem châu báu trang sức bán đi lấy tiền, thay cẩm y bằng áo vải thô, bỏ cả trâm cài, tự mình đứng phát cháo ven đường.
Lúc ấy mưa vừa tạnh, trời nắng gay gắt, những cảnh dân chúng lầm than khiến ta không nỡ nghỉ, cứ đứng dưới nắng suốt một ngày.
Đến tối, Triệu Tuân trông thấy ta mệt mỏi thì ôm lấy, xót xa bảo ta không cần tự ép mình làm đến thế.
Nhưng suốt những ngày sau, ta vẫn tiếp tục đến giúp đỡ.
Lục Duy Ngôn cũng có mặt ở nơi ấy.
Vị quan trẻ từ kinh thành tới vốn có dáng vẻ cao quý, trắng trẻo như ngọc, thế mà chẳng ngại lội bùn, tự tay dựng thước đo mực nước, đắp bờ đê và đào dòng dẫn nước.
Hắn chẳng mảy may quan tâm vạt áo lấm bẩn, khiến ai chứng kiến cũng khó tin.
Ta khâm phục nên nhìn theo hồi lâu, còn hắn dường như cảm nhận được ánh mắt ấy, cả sống lưng cứng lại, không dám quay đầu.
Sau này Triệu Tuân lại tìm cách mời hắn, cuối cùng mới biết hắn đã quyết lòng phò tá Tề Vương.
Tề Vương là người nhân hậu, nhưng cũng là đối thủ lớn nhất trên con đường đoạt vị của Triệu Tuân.
Lần gặp cuối cùng ở kiếp ấy, Tề Vương thua trận rồi bị g/i/ế/c, Triệu Tuân trở thành Hoàng đế, còn Lục Duy Ngôn bị bắt làm t/ù nhân.
Ta thay mặt phu quân đến ngục chiếu, mong khuyên hắn quay đầu.
Triệu Tuân không nỡ bỏ phí nhân tài, chỉ cần Lục Duy Ngôn chịu rời bỏ chủ cũ, hắn sẽ có quan tước và bổng lộc hậu hĩnh.
Trong nhà ngục vừa ẩm vừa lạnh, ta khoác áo choàng dày, còn hắn chỉ mặc bộ y phục mỏng, ngồi nép trong góc tối.
Tóc mai rối phủ xuống trán, khuôn mặt nhợt nhạt, hắn không còn chút thần thái của vị Thám hoa năm nào.
Ngẩng lên nhìn ta, hắn lại hết sức điềm nhiên, như đã sớm chuẩn bị đón nhận cái c/h/ế/t.
Ta nhìn vào mắt hắn, nhiều lần định mở lời nhưng rốt cuộc không thể khuyên hắn phản chủ.
Cuối cùng, ta chỉ bảo người quét dọn nơi giam giữ và mang thêm quần áo đến cho hắn.
Sau đó ta thuyết phục Triệu Tuân tha mạng, đày hắn ra khỏi kinh thành, bởi không g/i/ế/c một văn thần cứng cỏi cũng thể hiện lòng khoan dung của bậc quân vương.
Triệu Tuân chấp thuận, lưu đày Lục Duy Ngôn cách xa ngàn dặm.
Từ lần trong ngục chiếu ấy đến tận ngày ta nhắm mắt, hai người chẳng có dịp gặp lại.
Bây giờ, người trong sương đang từng bước đi về phía ta.
Trên vai hắn đeo hòm sách, dáng vẻ phong trần vì đường xa; hơi sương đọng ở chân mày và lông mi khiến đôi mắt như ướt nước.
Dung mạo hắn còn nét trẻ tuổi, chưa sắc sảo như năm xưa, thần sắc cũng dịu dàng hơn.