Đệ Cửu Thứ Trướng Triều

Chương 12: Sau Khi Triều Rút

Nước rút suốt bảy ngày.

Ngày đầu tiên, nước rút xuống ngang đầu gối. Ngày thứ hai, xuống đến mắt cá chân. Ngày thứ ba, mặt đường bắt đầu lộ ra. Ngày thứ tư, tấm biển chỉ đường bị sóng đ/á/n/h xiêu vẹo hiện lên. Ngày thứ năm là một chiếc xe buýt lật nghiêng. Ngày thứ sáu, vết nứt dài ba mươi mét trên đê Bắc phơi ra trước mắt mọi người.

Đến ngày thứ bảy, trên bãi bồi chỉ còn lại một lớp muối xám trắng dày đặc.

Như thể lòng biển vừa nôn ra tất cả.

Sau này, trong báo cáo, Tô Kiến Vi viết rằng: sau khi cộng hưởng dừng lại, dòng nước nóng nguội đi, khoáng chất hòa tan kết tinh, theo nước rút trải khắp vùng trũng ven vịnh, độ dày trung bình ba centimet.

Ngư dân gọi nó là "da cá biển c/h/ế/t".

Chiều ngày thứ bảy, Thẩm Kinh Lan chống gậy, lần đầu tiên bước ra khỏi bệnh viện.

Cánh tay trái của anh vẫn còn treo, xương sườn quấn băng, mỗi bước đi đều đau. Nhưng anh nhất định tự đi. Y tá khuyên anh ngồi xe lăn, anh nói không cần.

"Đi đâu?" y tá hỏi.

"Đi xem nước," anh nói.

"Nước có gì đẹp."

"Tôi muốn xem nó còn ở đó không."

Trên đê Bắc rất đông người.

Quân đội, tình nguyện viên, nhân viên đăng ký đeo băng đỏ, người vác máy quay, người đến tìm đồ, người đến chụp ảnh, người đến khóc. Trên đê kéo dây cảnh giới, ngoài dây kê một dãy bàn, trên bàn đặt nước khoáng, bánh quy, giấy b/út, và một cuốn sổ rất dày.

Bìa cuốn sổ in năm chữ: Đăng Ký Người Mất Tích.

Thẩm Kinh Lan đứng ngoài dây cảnh giới, nhìn rất lâu.

Một người phụ nữ mặc đồng phục bước tới: "Người nhà?"

"Không phải."

"Vậy anh là——"

"Tôi đến từ hải đăng," Thẩm Kinh Lan đáp. "Hầm trú ẩn ở đó có sáu mươi hai người."

Vẻ mặt người phụ nữ hơi giãn ra, rồi lại căng lên: "Ồ. Vậy anh đến đăng ký chuyện gì?"

"Tôi đến tra một con số."

"Con số gì?"

"Bao nhiêu người đã c/h/ế/t."

Người phụ nữ nhìn anh, ánh mắt hơi lạ. Có lẽ suốt bảy ngày qua, cô đã gặp không ít người như thế — ngày thứ bảy sau t/h/ả/m họa, luôn có vài người đến hỏi con số này, hỏi rất cố chấp, như muốn lấy nó đổi lấy thứ gì đó.

Cô chỉ vào cái bàn: "Đi hỏi kỹ sư Tô. Cô ấy phụ trách thống kê."

"Kỹ sư Tô?"

"Tô Kiến Vi. Nghe nói cô ấy thuộc tổ mô hình của ban chỉ huy phòng chống lũ thành phố. Thực ra cô ấy tự tìm đến, mang theo dữ liệu của mình." Người phụ nữ nhíu mày, "Không ai phái cô ấy cả."

Thẩm Kinh Lan quay người.

Tô Kiến Vi ngồi sau cái bàn ngoài cùng bên trái, trước mặt chất ba chiếc laptop, một xấp giấy in, bốn lon cà phê rỗng. Cô đeo kính mới với cặp tròng dày cộp, mái tóc b/úi qua loa bằng một cây b/út chì. Đến cả cổ áo sơ mi cũng bị mặc lệch.

Cô đang nói chuyện với một ông lão.

"...Con trai ông lần cuối xuất hiện là ở bến số ba khu cảng vụ?"

"Đúng, bến số ba." Tay ông lão run, "Nó nói nó đi vớt thuyền."

"Vớt thuyền?"

"Cái thuyền của nó, thuyền hai mươi năm, nó nói không thể mất."

Tô Kiến Vi ghi một dòng vào giấy, rồi ngẩng đầu, giọng rất nhẹ: "Mực nước bến số ba là chín phẩy bốn mét. Sóng cao một phẩy hai mét. Con trai ông cao một mét bảy hai."

Ông lão không nói gì.

"Xin lỗi." Tô Kiến Vi nói, "Tôi tạm xếp trường hợp của con trai ông vào nhóm nghi t/ử vong. Nếu ông muốn, chúng tôi vẫn có thể giữ trạng thái mất tích."

"Cứ đ/á/n/h dấu đi." Ông lão nói, "Tôi không muốn phải chạy đi chạy lại nữa."

Tô Kiến Vi vẽ một dấu chéo rất nhỏ sau dòng đó.

Vẽ xong, cô ngẩng đầu, nhìn thấy Thẩm Kinh Lan.

Cô sững hai giây, rồi đứng dậy, vòng qua bàn, bước về phía anh. Đi được nửa đường thì dừng lại, như không biết nên làm biểu cảm gì, cuối cùng chỉ đưa tay ra, rất nhẹ chạm vào cánh tay không bị thương của anh.

"Anh còn sống," cô nói.

"Tôi cũng vậy."

"Lúc đó tôi ở trên cao mà."

"Ừ."

Hai người đứng đó, không ai nói thêm. Gió từ phía biển thổi tới, mang theo mùi muối và dầu diesel, thổi giấy trên bàn xào xạc.

"Chân anh thế nào rồi?" Tô Kiến Vi mở lời trước.

"Đi được."

"Bùi Độ Xuyên đâu?"

Thẩm Kinh Lan không trả lời.

Ánh mắt Tô Kiến Vi trầm xuống: "Anh ấy ở bệnh viện nào?"

"Bệnh viện số hai thành phố. Tầng bốn."

"Tôi muốn đến thăm anh ấy."

"Anh ấy không muốn gặp ai."

"Tại sao?"

"Vì anh ấy không nhớ tôi là ai." Thẩm Kinh Lan nói, "Cũng không nhớ cô là ai. Anh ấy nhớ cách ăn cơm, cách đi đường, cách nói tiếng phổ thông. Nhưng tất cả những người anh ấy nhớ, đều là 'hình như quen'. Không một ai thật sự quen."

Ngón tay Tô Kiến Vi siết c/h/ặ/t.

"Bao lâu rồi?"

"Bảy ngày." Thẩm Kinh Lan nói, "Bảy ngày, tôi đi bảy lần. Lần đầu anh ấy hỏi tôi có phải bác sĩ không. Lần hai hỏi tôi có phải tình nguyện viên không. Lần ba hỏi chúng tôi trước đây có gặp nhau không. Lần bốn đến lần bảy, anh ấy đều hỏi cùng một câu."

"Câu gì?"

"'Tại sao tôi luôn cảm thấy anh rất quan trọng'."

Gió thổi một tờ giấy trên bàn bay lên, bay rất xa. Tô Kiến Vi không đuổi theo.

"Mô hình đã dự đoán đúng." Cô đột nhiên nói.

"Gì cơ?"

"Mười một phẩy ba." Tô Kiến Vi nói, "Đỉnh thấp hơn giá trị lý thuyết hai phẩy bốn mét. Tôi tính ra là ba phần giảm chấn, trong đó một người có tám dấu ấn. Thẩm Kinh Lan, con số đó đúng. Các anh thật sự đã phá vỡ được vòng lặp."

"Ừ."

"Vậy lần này," giọng cô bắt đầu run, "là thật sự kết thúc. Không có lần thứ mười hai nữa."

"Đúng."

"Vậy tại sao——" cô ngẩng đầu, mắt đỏ, "vậy tại sao anh trông như vừa c/h/ế/t một lần."

Thẩm Kinh Lan nhìn bãi muối xám trắng phía xa.

"Vì những con số trong sổ của tôi... không sao cân đong cho nổi." anh nói.

"Con số gì?"

"Bốn trăm mười bảy." anh nói, "Vòng của ông nội tôi. Tám trăm bốn mươi ba, vòng của Lục Trầm Chu. Còn một trăm hai mươi người dưới lòng đất, tôi không biết cuối cùng sống được mấy người."

Anh quay đầu lại.

"Tôi cứu được sáu mươi hai người. Sáu mươi hai người."

"Thẩm Kinh Lan——"

"Ông nội tôi phát điên." anh nói, "Lục Trầm Chu tự nhốt mình ba mươi năm. Còn tôi? Tôi trải qua chín vòng lặp, c/h/ế/t tám lần, cuối cùng đổi được sáu mươi hai người."

Anh cười một cái, rất khó coi.

"Cô nói bài toán này giải được rồi sao."

Tô Kiến Vi im lặng rất lâu.

Rồi cô móc từ túi ra một tờ giấy, gấp rất nhỏ, mép đã sờn. Đưa cho anh.

"Đây là gì?"

"Tôi viết sáng nay." Tô Kiến Vi nói, "Tôi không cho ai xem. Ngay cả ban chỉ huy cũng không."

Thẩm Kinh Lan mở ra.

Trên giấy là một dòng chữ:

Tế Châu, tổng dân số 62.317.

Thảm họa lần này, xác nhận t/ử vong 843 người (bao gồm t/ử vong do hoảng loạn giai đoạn đầu).

Mất tích 127 người (suy đoán t/ử vong).

Nếu không can thiệp, mô hình dự đoán t/ử vong 61.000–62.000 người.

Số người sống sót ước tính: hơn 61.000 người.

Dưới còn một dòng, nét chữ khác, là viết thêm sau, viết rất đậm:

Trong hơn sáu vạn người còn sống ấy, có bốn mươi ba cái tên từng được một ông lão khoanh tròn từ ba mươi năm trước.

Năm đó ông không cứu được họ.

Lần này có người thay ông cứu được.

Thẩm Kinh Lan nhìn dòng chữ đó, nhìn rất lâu.

"Bốn mươi ba." anh nói.

"Ừ."

"Cô làm sao biết?"

"Sổ của anh." Tô Kiến Vi nói, "Tôi chép lại rồi. Cả bốn mươi ba cái tên đều được khoanh tròn. Tôi đã đối chiếu từng người một — Ôn Như Ký, Sở Chiêu Dã, tôi, người phụ nữ bế con ở bến tàu, ông lão đẩy gạo cho trẻ con ở khu phố cũ... tất cả đều có."

Cô giơ tay, chỉ vào bãi muối.

"Thẩm Kinh Lan, anh nghĩ anh chỉ cứu sáu mươi hai người. Nhưng trong sáu mươi hai người đó, có mười chín người già, tám đứa trẻ, bảy người bệnh. Mỗi người trong số họ đều còn gia đình. Người phụ nữ bế con, chồng cô ấy sau đó từ thành phố ra, tìm thấy cô ấy ở chỗ đăng ký. Ông lão có một cô con gái, đi làm xa, hôm qua đã về."

Cô dừng lại.

"Anh cứu không phải sáu mươi hai người. Anh cứu ít nhất hai trăm gia đình. Và đây chỉ là phần tôi đếm được."

Gió rất lớn. Dây cảnh giới phía xa bị thổi đung đưa.

Thẩm Kinh Lan gấp tờ giấy lại, nhét vào túi áo.

"Cảm ơn cô," anh nói.

"Đừng cảm ơn tôi." Tô Kiến Vi nói, "Cảm ơn chính anh. Hoặc cảm ơn người không nhớ mình là ai."

"Anh ấy hôm nay tỉnh rồi." Thẩm Kinh Lan đột nhiên nói.

"Gì cơ?"

"Sáu giờ sáng nay, anh ấy tỉnh." Thẩm Kinh Lan nhìn tay mình, "Y tá gọi tôi. Tôi chạy tới, anh ấy nằm trên giường, mở mắt, nhìn trần nhà. Tôi gọi tên anh ấy, anh ấy quay đầu nhìn tôi, nhìn rất lâu."

"Rồi sao?"

"Rồi anh ấy nói," giọng Thẩm Kinh Lan rất nhẹ, "'Anh có phải nhận nhầm người rồi không.'"

Tô Kiến Vi không nói gì.

"Tôi nói không. Tôi nói anh tên Bùi Độ Xuyên. Anh ấy nói, ồ, cái tên này nghe khá quen. Tôi nói chúng ta quen nhau rất lâu rồi. Anh ấy nói, vậy à, chúng ta là bạn sao?"

Anh dừng lại.

"Tôi nói, chúng ta là kiểu quan hệ phiền phức hơn bạn bè."

"Anh ấy nói gì?"

"Anh ấy cười." Thẩm Kinh Lan nói, "Anh ấy cười thì mắt phải hơi rủ xuống, lông mi che ánh sáng. Anh ấy vẫn cười như vậy, không đổi chút nào. Rồi anh ấy nói, 'Vậy phiền anh trước tiên nói cho tôi biết, tại sao trên tay tôi có một vết sẹo.'"

"Sẹo?"

"Một vết đỏ rất mới, rất mảnh." Thẩm Kinh Lan nói, "Trên cẳng tay anh ấy. Hình xăm mất rồi, nhưng vết này còn. Như có người dùng b/út viết lên đó rất nhiều lần, mực thấm vào lỗ chân lông, rửa không sạch."

Anh ngẩng đầu.

"Tôi viết cho anh ấy mỗi ngày một lần. Viết chín ngày. Ngày thứ chín, để lại vết này."

Mắt Tô Kiến Vi đỏ.

"Ngày mai tôi vẫn đi viết." Thẩm Kinh Lan nói, "Viết đến khi vết này thành sẹo, viết đến khi sẹo thành chữ, viết đến khi anh ấy nhớ ra."

"Nếu không nhớ ra thì sao?"

"Vậy thì viết đến khi tôi không nhớ nữa."

Bốn giờ chiều, Thẩm Kinh Lan đến bệnh viện số hai thành phố.

Phòng bệnh tầng bốn hướng nam, nắng rất đẹp, chiếu ga giường trắng bệch. Bùi Độ Xuyên ngồi trên giường, mặc đồ bệnh nhân, tay trái bó bột, mặt còn vết bầm, nhưng đã ngồi dậy được.

Anh đang đọc một cuốn tạp chí. Anh lật từng trang rất chậm, như thể đang cố nhận ra từng con chữ.

Nghe tiếng cửa, anh ngẩng đầu.

Nhìn thấy Thẩm Kinh Lan, anh sững một chút, rồi đặt tạp chí xuống, rất khách sáo gật đầu.

"Anh đến rồi."

"Ừ."

"Ngồi đi."

Thẩm Kinh Lan ngồi xuống ghế bên giường. Chiếc ghế cứng khiến xương sườn anh nhói lên khi vừa ngồi xuống, nhưng anh không để lộ vẻ đau đớn.

"Hôm nay thấy thế nào?"

"Tạm được." Bùi Độ Xuyên nói, "Bác sĩ nói tôi có thể xuống giường đi lại. Nhưng chân tôi không có sức."

"Từ từ thôi."

Một chiếc tủ đầu giường ngăn giữa hai người. Trên tủ đặt một cốc nước, một quả táo, một chiếc điện thoại, và một chiếc đồng hồ quả quýt bằng đồng thau.

Kim đồng hồ dừng ở năm giờ bảy phút.

Ánh mắt Bùi Độ Xuyên rơi trên chiếc đồng hồ, dừng rất lâu.

"Cái này," anh nói, "là của ai?"

"Của anh."

"Của tôi?"

"Anh luôn mang theo." Thẩm Kinh Lan nói, "Chiếc đồng hồ này đã có từ chín mươi năm trước."

Bùi Độ Xuyên cười: "Anh đừng đùa. Tôi mới hai mươi chín."

"Đồng hồ không phải anh mua." Thẩm Kinh Lan nói, "Là ông nội anh để lại cho anh."

"Tôi không biết ông nội mình là ai." Bùi Độ Xuyên nói, "Tôi lớn lên trong trại trẻ mồ côi. Hồ sơ cũng không ghi rõ cha mẹ."

"Tôi biết."

"Anh biết?" Bùi Độ Xuyên nhìn anh, ánh mắt hơi bối rối, "Rốt cuộc anh là ai?"

Thẩm Kinh Lan nhìn anh.

Gương mặt này anh đã nhìn chín lần. Trong nước, trong đống đổ nát, trong đường hầm, trên bến tàu, dưới đèn hải đăng, trên đỉnh vách đá. Chín lần nhìn thấy, cũng là chín lần đối diện với mất mát.

"Tôi là Thẩm Kinh Lan," anh nói.

"Ồ." Bùi Độ Xuyên gật đầu, "Cái tên này tôi nghe rồi. Y tá nhắc. Nói có một người họ Thẩm ngày nào cũng đến, ngồi một tiếng, không nói gì."

"Tôi nói rất nhiều."

"Nhưng tôi không nhớ." Bùi Độ Xuyên cúi đầu, nhìn tay mình, "Bác sĩ nói đây là rối loạn trí nhớ sau sang chấn. Nói trong đầu tôi có thứ gì đó bị xóa mất, có thể mãi mãi không trở lại. Ông ấy bảo tôi đừng vội, từ từ nghĩ."

Anh ngẩng mắt.

"Nhưng tôi không muốn từ từ. Tôi muốn biết ngay bây giờ."

"Biết gì?"

"Biết rốt cuộc tôi đã mất cái gì." Giọng Bùi Độ Xuyên rất nhẹ, "Đêm nào tôi cũng mơ thấy một nơi. Rất tối, có nước, có tiếng kim loại. Trong mơ có người gọi tên tôi, gọi rất nhiều lần. Tôi tỉnh dậy, không nhớ gì cả, chỉ nhớ khi người đó gọi, tôi rất muốn trả lời."

Anh dừng lại.

"Tôi có phải nợ ai cái gì không?"

Tay Thẩm Kinh Lan siết c/h/ặ/t.

"Không." anh nói.

"Anh lừa tôi."

"Tôi không."

"Anh có." Bùi Độ Xuyên nói, "Mỗi lần anh nói dối, tay trái anh đều động một cái. Vừa rồi anh động."

Thẩm Kinh Lan buông tay.

Ngoài cửa sổ có chim bay qua. Dưới lầu có người nói chuyện, có xe đẩy kêu lọc cọc.

"Bùi Độ Xuyên."

"Ừ."

"Nếu tôi nói với anh một chuyện," Thẩm Kinh Lan nói, "một chuyện rất kỳ lạ. Anh có thấy tôi điên không?"

"Anh nói xem."

"Tôi nói," Thẩm Kinh Lan rất chậm, "chúng ta quen nhau rất lâu rồi. Lâu đến mức anh thay tôi c/h/ế/t rất nhiều lần. Mỗi lần anh c/h/ế/t, tôi lại làm lại từ đầu. Tôi thử chín lần, mới làm xong chuyện này."

Bùi Độ Xuyên nhìn anh, không cười, cũng không nói.

Nhìn rất lâu.

Rồi anh nói: "Vậy tôi đã làm xong cái gì?"

"Anh cứu sáu vạn người."

"Chỉ hai chúng ta?"

"Còn nhiều người khác."

"Vậy tôi cũng coi như làm được chuyện lớn." Bùi Độ Xuyên gật đầu, "Tốt."

"Anh không tin tôi."

"Tôi tin." Bùi Độ Xuyên nói, "Không phải tôi không tin anh. Tôi không tin chính tôi. Trong đầu tôi có một mảng trống, anh đổ gì vào, tôi cũng chỉ nghe được. Như thế không phải là tin tưởng, mà là tôi chẳng còn cách nào khác."

Anh đưa tay, cầm chiếc đồng hồ quả quýt.

Vỏ đồng hồ lạnh. Kim dừng ở năm giờ bảy phút.

"Nhưng cái đồng hồ này," anh nói, "tôi nhìn nó, trong lòng rất khó chịu."

"Tại sao?"

"Không biết." Bùi Độ Xuyên dùng ngón cái vuốt mặt sau vỏ đồng hồ, "Chính là khó chịu. Như có người đè một tảng đá lên n/g/ự/c tôi, đè rất lâu rất lâu. Tôi không nhớ ai đè."

Anh đặt đồng hồ xuống.

"Ngày mai anh còn đến không?"

"Đến."

"Vậy anh có thể——" Bùi Độ Xuyên dừng một chút, như rất khó mở lời, "có thể mang chút đồ đến không. Ảnh cũng được, thư cũng được, gì cũng được. Cứ ngồi một mình nhìn vào khoảng không rồi cố nhớ, tôi chẳng nghĩ ra được gì cả."

"Được."

"Còn nữa."

"Ừ."

"Anh có thể nói cho tôi biết," Bùi Độ Xuyên ngẩng mắt, "trước đây tôi là người thế nào?"

Thẩm Kinh Lan nhìn anh.

Nắng xuyên qua cửa sổ, phủ lên gương mặt anh, làm hiện rõ nốt ruồi nhạt dưới mắt cùng bóng hàng mi rủ xuống.

"Anh à." Thẩm Kinh Lan nói, "Anh rất ghét người khác thay anh quyết định. Mỗi lần anh đều đặt lựa chọn xấu nhất ra, rồi lùi một bước, để tôi tự chọn. Anh nghĩ đó là tôn trọng, thật ra là lười biếng."

Bùi Độ Xuyên cười: "Tôi khốn nạn vậy sao?"

"Anh không khốn nạn." Thẩm Kinh Lan nói, "Anh chỉ sợ gánh trách nhiệm. Sợ sau khi chọn, kết quả xấu, tôi sẽ hận anh."

"Vậy anh hận tôi không?"

"Tôi từng hận anh." Thẩm Kinh Lan nói, "Hận suốt tám lần. Đến lần thứ chín thì không nữa."

"Tại sao?"

"Vì lần thứ chín," Thẩm Kinh Lan nói, "anh không để tôi chọn. Anh tự nhảy xuống."

Phòng bệnh rất yên.

Bùi Độ Xuyên cúi đầu, nhìn chiếc đồng hồ, nhìn rất lâu rất lâu.

Rồi anh rất nhẹ nói một câu:

"Tôi hình như... nhớ được một chút."

"Gì cơ?"

"Trong nước." Bùi Độ Xuyên nói, "Rất tối. Rất lạnh. Có một sợi dây. Tôi đang kéo dây, kéo rất lâu, tay toàn m/á/u. Trong lòng tôi đang nghĩ một chuyện, nghĩ rất rõ, rõ đến mức tôi tưởng cả đời này sẽ không quên."

"Chuyện gì?"

Bùi Độ Xuyên ngẩng đầu, trong mắt có một chút ánh sáng mơ hồ.

"Tôi quên rồi."

Bảy giờ tối, Thẩm Kinh Lan về hải đăng.

Hệ thống điện của hải đăng vẫn chưa được khôi phục hoàn toàn, chỉ tầng một có đèn. Anh lần mò trong bóng tối, chậm rãi leo từng bậc thang, leo rất chậm, chân đau dữ dội.

Căn phòng trên cùng là thư phòng của anh. Trên tường treo một tấm bản đồ vùng vịnh, trên bản đồ đầy ký hiệu b/út đỏ. Cuốn sổ nằm mở trên bàn.

Anh ngồi xuống, mở ra.

Lật đến trang cuối.

Trên đó là dòng anh viết sáng nay:

Ngày thứ chín mươi (vòng thứ hai). Bùi Độ Xuyên, bệnh viện số hai tầng bốn, lần thứ bảy hỏi tôi là ai.

Trên tay anh ấy có vết rồi.

Đồng hồ dừng ở năm giờ bảy phút.

Nước rút rồi.

Anh để trống một dòng, rồi viết ngày hôm nay.

Viết xong, anh dừng b/út.

Bởi anh không biết phải viết lời kết thế nào.

Cuốn sổ này, từ ngày thứ chín mươi bắt đầu, ghi nước, ghi lương, ghi người, ghi tên, ghi lại những vòng tròn và dấu gạch chéo. Nó ghi tất cả những gì nên ghi, chỉ thiếu điều quan trọng nhất.

Anh lật lại trang đầu, đọc từ đầu.

Đọc đến một trang nào đó ở giữa, tay anh dừng lại.

Góc phải dưới trang đó, có một dòng chữ rất nhỏ.

Không phải nét chữ của anh.

Nét chữ mảnh và cứng, hằn rất nhẹ trên mặt giấy, như người viết lúc đó tay đang run, lại sợ bị người khác nhìn thấy:

Nếu anh ấy quên, thì xé trang này đưa cho anh ấy xem.

Tim Thẩm Kinh Lan lỡ một nhịp.

Anh nhẹ nhàng gỡ tờ giấy ra, đưa đến dưới đèn.

Mặt sau tờ giấy còn một dòng, chữ càng nhỏ:

Anh không phải cái giá. Anh là nhân chứng.

—— Bản thân của lần thứ tám, viết cho bản thân của lần thứ chín.

Gió ngoài cửa sổ đột nhiên lớn.

Đèn hải đăng tự động quay một vòng, ánh sáng quét qua căn phòng, quét qua tấm bản đồ vùng vịnh, quét qua cuốn sổ mở trên bàn, quét qua tờ giấy mỏng trong tay Thẩm Kinh Lan.

Anh ngồi đó, ngồi rất lâu.

Rồi anh làm một việc rất kỳ lạ.

Anh xé tờ giấy đó ra, gấp lại, nhét vào túi áo.

Lại đóng sổ, khóa vào ngăn kéo.

Rồi anh đứng dậy, đi đến bên tường, cầm một cây b/út dạ đen to.

Anh viết trên tường, bên cạnh tấm bản đồ vùng vịnh, trên mảng tường trắng đó, dòng đầu tiên:

Bùi Độ Xuyên.

Dòng thứ hai:

Thích uống trà rất nóng.

Dòng thứ ba:

Mỗi bước đi đều đặt chân thật vững.

Dòng thứ tư:

Một nốt ruồi dưới mắt phải.

Dòng thứ năm:

Anh ấy sợ tối, nhưng không chịu nói.

Dòng thứ sáu:

Để đợi tôi, anh ấy đã đục xuyên tường suốt tám lần trong đường hầm.

Dòng thứ bảy:

Lần thứ chín, anh ấy đến rồi.

Dòng thứ tám, anh dừng rất lâu, cuối cùng viết:

Lần thứ mười một, chúng ta cùng lên.

Viết xong, anh lùi một bước, nhìn tám dòng chữ này.

Chữ đen trên tường trắng, rất rõ, rất xấu, từng nét từng nét, như khắc lên.

"Chưa đủ." anh nói.

Thế là anh lại viết tiếp bên dưới:

Tôi sẽ viết mỗi ngày một lần. Viết đến khi anh nhớ ra.

Nếu tôi không nhớ nữa, anh nhắc tôi.

Nếu cả hai chúng ta đều không nhớ nữa——

Viết đến đây, anh dừng lại.

Vì anh đột nhiên nhận ra, anh không biết phải viết tiếp câu ấy thế nào.

Nếu cả hai người đều không nhớ nữa, thì không có ai đến viết câu này.

Món nợ này, sẽ thật sự vĩnh viễn không cân được.

Anh đặt b/út xuống, đi đến cửa sổ.

Bên dưới là mặt biển đen thẫm. Xa xa, vài đốm đèn lập lòe như sao, là nơi chưa sửa xong. Xa hơn, trăng lên, chiếu trên mặt nước, chiếu thành một con đường bạc vụn.

Máy đo thủy triều đứng trên đá ngầm dưới vách, mới, vỏ thép không gỉ, dưới ánh trăng phản chiếu một chút ánh lạnh.

Con số trên màn hình khẽ nhảy: 0,4 m.

Chênh lệch triều bình thường. Đêm bình thường. Thành phố bình thường, đang sống.

Thẩm Kinh Lan đưa tay vào túi áo, chạm vào tờ giấy gấp.

Anh