Lễ khánh thành bia tưởng niệm được tổ chức vào ngày đông chí.
Ngày thứ bốn mươi bảy sau khi nước rút, đê Bắc đã sửa xong, đoạn đê bị vỡ đã được đổ bê tông gia cố, nâng cao hơn trước nửa mét. Trên đỉnh đê dọn ra một khoảng đất phẳng, lát đá xanh, trên đá dựng một tấm bia hoa cương.
Cao hai mét tư, rộng một mét hai, dày ba mươi phân.
Mặt trước khắc dòng chữ: "Đài tưởng niệm những người t/ử nạn trong công tác phòng chống thiên tai Tế Châu."
Mặt sau khắc tên.
Khắc tên mất mười chín ngày.
Thợ đá họ Trần, hơn sáu mươi tuổi, người bản địa, sống tại một thị trấn nằm trên vùng đất cao chín mét về phía nam. Sau trận ngập lụt, căn nhà của ông vẫn còn đứng vững, chỉ có tường bị nước ngâm mục, đẩy một cái là đổ. Ban chỉ huy hỏi ông có muốn khắc bia không, ông nói muốn.
"Bao nhiêu một ngày?"
"Không lấy tiền." Thầy Trần nói, "Con trai tôi nằm trong số tám trăm bốn mươi ba người."
Con trai ông tên Trần Thụ, ba mươi mốt tuổi, người vận hành cần cẩu tại khu cảng. Ngày nước đến anh đang trực, không chạy ra kịp. Ngày thứ bảy tìm thấy t/h/i t/h/ể ở phía ngoài đê chắn sóng, tay vẫn còn nắm một cái cờ lê.
Thầy Trần dẫn theo hai học trò, một máy cắt, ba hộp lưỡi cắt kim cương, dựng một cái lều trên đê, từ sáu giờ sáng đến sáu giờ tối, cắt suốt mười chín ngày.
Đá hoa cương rất cứng, mỗi nhát khắc chỉ làm bong ra một lớp bột trắng mỏng. Một cái tên khắc mất hai mươi phút, sâu năm mi-li-mét, rộng tám mi-li-mét, nét phải thẳng, chỗ ngoặt phải tròn, khắc xong còn phải dùng sơn đen tô lại một lượt.
Tám trăm bốn mươi ba cái tên.
Thẩm Kinh Lan đến xem ba lần.
Lần đầu là ngày thứ ba, bia vừa dựng lên, còn trống, đá xám xanh, nhẵn bóng, soi bóng người méo mó. Anh đứng trước bia nhìn rất lâu, rồi đưa tay sờ mặt đá.
Lạnh. Rất cứng. Nặng hơn anh tưởng.
Lần thứ hai là ngày thứ mười, khắc được hơn ba trăm cái. Thầy Trần ngồi xổm trong lều ăn cơm hộp, thấy anh, gật đầu, không nói gì.
Lần thứ ba là ngày thứ mười chín, cái tên cuối cùng khắc xong.
Chiều hôm đó bốn giờ, Thẩm Kinh Lan đi lên đê, thấy thầy Trần đứng trước bia, tay cầm một cây cọ, đang tô sơn đen cho cái tên cuối cùng.
Trần Tiểu Mãn — không phải đứa bé chín tuổi đó, là một người trùng tên khác, nữ, năm mươi sáu tuổi, bán rau.
Thầy Trần tô xong nét cuối, đặt cọ xuống, lùi lại hai bước, nhìn cả tấm bia.
Tám trăm bốn mươi ba cái tên, một hàng một hàng, từ trên xuống dưới, từ trái sang phải, ngay ngắn chỉnh tề, chữ đen trên đá xám xanh, như từng hàng người lặng lẽ đứng cạnh nhau.
Nhìn rất lâu, thầy Trần nói: "Khắc xong rồi."
"Ừ."
"Ngày mai sơn, ngày kia đ/á/n/h bóng." Thầy Trần nói, "Xong xuôi là có thể làm lễ rồi."
"Làm lễ thế nào?"
"Dâng hoa chứ." Thầy Trần móc trong túi ra một điếu t/h/u/ố/c, châm lửa, "Thành phố sắp tổ chức lễ. Lãnh đạo phát biểu, đặt vòng hoa, đọc danh sách. Đọc xong là giải tán."
Ông kẹp điếu t/h/u/ố/c giữa ngón tay, không hút.
"Quan sát viên Thẩm."
"Hửm?"
"Anh đã đếm chưa?"
"Cái gì?"
"Những cái tên trên này." Thầy Trần nói, "Tám trăm bốn mươi ba. Tôi khắc từng cái một, khắc đến cái thứ ba trăm thì bắt đầu đếm. Khắc đến cái thứ sáu trăm thì không đếm nữa."
"Tại sao?"
"Vì tôi không đếm tiếp nổi nữa." Thầy Trần nói, "Mỗi cái tên tôi đều phải nhìn một lượt, nhìn rõ rồi mới xuống d/a/o. Khắc mãi thành quen, về sau chỉ cần liếc qua là tôi biết người này bao nhiêu tuổi, ở đâu, làm gì. Vương Tiểu Mãn, chín tuổi, ngõ hai đê Bắc. Lý Kiến Quốc, bốn mươi bốn, khu cảng. Triệu Quế Lan, bảy mươi mốt, số bốn ngõ Hòe Thụ…"
Ông đọc một tràng, đọc hơn chục cái, dừng lại.
"Những cái tên này," ông nói, "là ai đưa cho anh?"
Thẩm Kinh Lan không nói.
"Lục Trầm Chu." Thầy Trần tự trả lời, "Tôi nghe nói là ông ta đưa danh sách. Ông ta ngồi xe lăn, ngồi ngoài lều tôi ba ngày, không nói một câu, chỉ nhìn tôi khắc. Khắc đến tên người quen của ông ta, ông ta quay mặt đi."
Ông hút một hơi t/h/u/ố/c.
"Anh nói có lạ không. Một người đưa cho anh một danh sách, bảo anh khắc những người này lên đá, mà tên ông ta không có trên đó."
"Ông ta không nên có."
"Tại sao?"
"Vì ông ta còn sống."
"Còn sống thì không tính là đã c/h/ế/t sao?" Thầy Trần quay đầu nhìn anh, "Quan sát viên Thẩm, tôi khắc mười chín ngày, khắc đến sau này tôi nghĩ ra một chuyện — tấm bia này khắc không phải người c/h/ế/t."
"Vậy là gì?"
"Là món nợ người sống còn thiếu." Thầy Trần nói, "Sau mỗi cái tên đều có một món nợ chưa trả. Những kẻ mắc nợ vẫn đi lại, ăn uống, trò chuyện như thường, nhưng món nợ ở đây, khắc trên đá, mưa gió, một trăm năm cũng không xóa được."
Ông ném đầu t/h/u/ố/c xuống đất, dùng chân nghiền tắt.
"Anh cũng là người thiếu nợ phải không?"
Thẩm Kinh Lan nhìn tấm bia.
Tám trăm bốn mươi ba cái tên. Đen, ngay ngắn, bất động.
"Phải, tôi cũng vậy." Anh nói.
"Vậy anh nên đến thường xuyên." Thầy Trần nói, "Chủ nợ ở đây đợi đấy."
Lễ định vào mười giờ sáng đông chí.
Trời rất lạnh, gió từ biển thổi vào, thổi cờ phần phật. Trên đê đứng hơn hai trăm người: lãnh đạo thành phố, gia quyến người t/ử nạn, tình nguyện viên, quân đội, phóng viên. Phía trước nhất đặt một hàng vòng hoa, cúc trắng cúc vàng, gió thổi một cái, dải giấy bay loạn.
Thẩm Kinh Lan đứng ở hàng cuối cùng.
Bó bột tay trái đã tháo, thay bằng đai bảo vệ, xương sườn vẫn đau, đi chậm. Anh không chào ai, cứ đứng sau cùng đám đông, nhìn tấm bia.
Bia phủ vải đỏ. Lát nữa sẽ kéo.
Tô Kiến Vi đứng bên cạnh anh, mặc một chiếc áo khoác đen rất không vừa người, trong lòng ôm một chồng tài liệu. Cô bị gọi đến tạm để đọc số liệu — ban chỉ huy cần có người giải thích "quy mô và kết quả xử lý của t/h/ả/m họa lần này", không ai rõ hơn cô.
"Anh căng thẳng không?" Cô nhỏ giọng hỏi.
"Không căng thẳng."
"Tôi căng thẳng." Tô Kiến Vi nói, "Tôi phải đứng trước hai trăm người mà nói rằng 'nếu không can thiệp, sẽ c/h/ế/t sáu vạn người'. Nói ra câu ấy, tôi cứ có cảm giác mình đang khoe công."
"Không phải khoe công."
"Tôi biết không phải." Cô ôm c/h/ặ/t chồng giấy, "Nhưng tôi vẫn căng thẳng. Vì tôi không thể giải thích sự can thiệp ấy thực chất là gì."
"Vậy thì đừng nói."
"Vậy nói gì?"
"Nói mười một phẩy ba." Thẩm Kinh Lan nói, "Cứ nói mực nước cao nhất đến mười một phẩy ba mét, thấp hơn dự đoán của mô hình hai phẩy bốn mét. Còn lại để họ tự đoán."
Tô Kiến Vi nhìn anh một cái.
"Anh ổn không?"
"Ổn."
"Bùi Độ Xuyên đâu?"
"Không đến."
"Tại sao?"
"Vì anh ấy không nhớ tấm bia này để làm gì." Thẩm Kinh Lan nói, "Tôi nói với anh ấy ba lần. Lần đầu anh ấy nói ồ, lần hai anh ấy nói vậy à, lần ba anh ấy hỏi tôi, vậy tôi đến làm gì."
"Anh trả lời thế nào?"
"Tôi nói, vì trên đó có một chỗ trống." Thẩm Kinh Lan nói, "Anh ấy nghe xong, nghĩ rất lâu, nói một câu rất lạ."
"Câu gì?"
"Anh ấy nói," giọng Thẩm Kinh Lan thấp xuống, "'Hình như tôi từng mơ thấy mình ở một nơi rất tối, đang đục tường.'"
Ngón tay Tô Kiến Vi siết c/h/ặ/t chồng giấy.
"Anh ấy nhớ ra rồi?"
"Chưa." Thẩm Kinh Lan nói, "Bác sĩ nói đó chỉ là những mảnh ký ức rời rạc bất chợt hiện về, không có nghĩa là trí nhớ đã hồi phục. Vùng hồi hải mã của anh ấy bị tổn thương, những ký ức về các sự kiện trong quá khứ có lẽ sẽ chẳng bao giờ trở lại."
"Còn anh?"
"Tôi sao?"
"Ký ức của anh." Tô Kiến Vi quay đầu nhìn anh, "Thẩm Kinh Lan, anh nhớ được bao nhiêu?"
Gió thổi tóc cô vào mặt, cô không gạt.
Thẩm Kinh Lan nhìn tấm bia phủ vải đỏ.
"Tôi nhớ hết." Anh nói.
"Hết?"
"Mỗi lần." Anh nói, "Lần đầu tôi c/h/ế/t thế nào, lần hai tôi c/h/ế/t thế nào, lần ba, lần bốn… lần thứ tám. Nhiệt độ nước trong đường hầm, trọng lượng cửa cống, mỗi câu Bùi Độ Xuyên nói với tôi, một chữ không sai."
"Anh không thấy có vấn đề sao?"
"Tôi thấy."
"Vậy tại sao anh không đi điều tra?" Tô Kiến Vi nói, "Sổ tay của Lục Trầm Chu viết bao nhiêu thứ, mô hình của tôi có bao nhiêu con số không giải thích được, Ôn Như Ký đến giờ còn đột nhiên hỏi tôi 'trước đây chúng ta có gặp nhau không'. Tất cả đều không đúng, Thẩm Kinh Lan. Chuyện này không bình thường."
"Tôi biết."
"Vậy tại sao không ai nói?"
"Vì nói cũng vô ích." Thẩm Kinh Lan nói, "Nước rút rồi. Cầu thông rồi. Tàu về rồi. Sáu vạn người còn sống. Đây là kết cục. Còn kết cục này đổi bằng gì —"
Anh dừng một chút.
"— người đổi đã không nhớ, người trả không muốn nói, người nhớ không nói ra. Vậy thì đừng nói."
Trên sân khấu bắt đầu phát biểu.
Lãnh đạo đọc bản thảo, giọng qua loa truyền đến, hơi méo, bị gió thổi tan một nửa. Nói về tình hình thiên tai, nói về cứu hộ, nói "đồng lòng chung sức", nói "quyết sách khoa học".
Tô Kiến Vi lên sân khấu là mười giờ hai mươi.
Cô đi đến trước micro, đặt chồng giấy xuống, đẩy kính, ngẩng đầu.
Hơn hai trăm đôi mắt nhìn cô.
Cô im lặng ba giây.
"Tôi là Tô Kiến Vi, thành viên tổ mô hình tạm thời thuộc ban chỉ huy phòng chống lũ thành phố." Cô nói, "Hôm nay, tôi xin trình bày một số liệu thống kê."
Cô cúi đầu nhìn giấy.
"Thảm họa lần này, tổng dân số Tế Châu sáu vạn hai ngàn ba trăm mười bảy người. Xác nhận t/ử vong tám trăm bốn mươi ba người. Mất tích một trăm hai mươi bảy người, suy đoán t/ử vong."
Gió rất lớn, giấy bị thổi cong lên, cô dùng tay giữ.
"Bảy mươi hai giờ trước khi t/h/ả/m họa xảy ra, chúng tôi chạy qua một phiên bản mô hình." Cô nói, "Theo dự đoán của mô hình, nếu không có bất kỳ biện pháp can thiệp nào, số người thiệt mạng cuối cùng sẽ d/a/o động từ sáu vạn một nghìn đến sáu vạn hai nghìn."
Dưới sân khấu rất yên.
"Nói cách khác," Tô Kiến Vi ngẩng đầu, "hơn hai trăm người đứng đây hôm nay, và mỗi người trong khán phòng, và sáu vạn người còn sống trong thành phố này — chúng ta lẽ ra đều không nên ở đây."
Cô dừng một chút.
"Mô hình không giải thích được điều này. Không có biến số nào giải thích được tại sao đỉnh mực nước thực tế thấp hơn dự đoán hai phẩy bốn mét. Tôi tính toán suốt ba tháng, thử qua mười bảy phiên bản thuật toán, cuối cùng chỉ viết được một câu: năng lượng bị hấp thụ."
"Thứ gì đã hấp thụ nguồn năng lượng ấy, tôi không biết. Tôi cũng không định tiếp tục tính toán nữa."
Cô lật tờ giấy lại, không nhìn nữa.
"Vậy nên hôm nay, tôi không muốn nói về quyết sách khoa học. Tôi muốn nói về một món nợ."
"Ba mươi năm trước, cái giá phải trả là bốn trăm mười bảy sinh mạng. Lần này, chúng ta mất thêm tám trăm bốn mươi ba người. Còn một trăm hai mươi bảy người mất tích, đến giờ vẫn chưa tìm thấy."
"Còn sáu vạn người, là có người thay chúng tôi trả."
Cô ngẩng đầu, nhìn về hàng cuối cùng dưới sân khấu.
Thẩm Kinh Lan không ngờ cô sẽ nhìn sang.
"Người này không ở trên bia." Tô Kiến Vi nói, "Vì anh ấy còn sống. Hoặc nói cách khác, anh ấy sống, nhưng một phần của anh ấy đã không còn. Tôi không biết định nghĩa chuyện này thế nào, mô hình không có mục này."
"Vậy nên hôm nay tôi đọc con số này, không phải để tuyên dương ai. Là để nói với những người sau này sẽ đứng trước tấm bia này —"
Giọng cô run một chút.
"Mỗi cái tên trên tấm bia này, đều có người thay họ trả hai lần."
Dưới sân khấu có người bắt đầu khóc. Rất nhỏ, nén lại, như một người bịt miệng trong chăn.
Tô Kiến Vi đọc xong, xuống sân khấu, đi ngang qua Thẩm Kinh Lan, dừng một chút.
"Xin lỗi." Cô nói.
"Tại sao?"
"Tôi nói ra rồi."
"Không sao." Thẩm Kinh Lan nói, "Vốn nên có người nói."
Kéo bia là mười giờ bốn mươi.
Vải đỏ được kéo xuống, cả tấm bia lộ ra. Tám trăm bốn mươi ba cái tên, đen, ngay ngắn, dưới nắng, mặt đá ánh lên một lớp sáng nhàn nhạt.
Có người dâng hoa. Có người cúi đầu. Có người bước lên, dùng ngón tay sờ từng cái tên, sờ đến cái mình tìm, thì dừng lại, đứng bất động.
Thầy Trần đứng bên kia bia, khoanh tay, nhìn.
Thẩm Kinh Lan vòng ra mặt sau bia, từ phải sang trái, từng hàng từng hàng nhìn.
Nhìn đến một hàng nào đó ở giữa, anh dừng lại.
Ở ngoài cùng bên phải hàng chữ ấy có một khoảng trống.
Trống.
Không phải khắc thiếu. Là cố ý để trống — chỗ đá đó được mài qua, mài nhẵn hơn xung quanh, mép có một vòng vết đục rất mảnh, như d/a/o khắc dừng lại một chút, rồi rời đi.
Dưới đó có một hàng chữ rất nhỏ, thầy Trần khắc, nông hơn những chữ khác:
Vị trí này chờ bổ sung
Thẩm Kinh Lan đưa tay, sờ vào chỗ trống đó.
Đá lạnh và nhẵn, như thể khoảng trống ấy đã chờ đợi một người từ rất lâu.
"Tôi để lại."
Thầy Trần không biết từ lúc nào đã đứng sau lưng anh.
"Tại sao?"
"Vì hôm đó anh đến tìm tôi." Thầy Trần nói, "Anh nói trên bia phải để một vị trí. Tôi hỏi là ai. Anh nói, một người không tồn tại."
"Ừ."
"Tôi làm nghề này bốn mươi năm," thầy Trần nói, "khắc qua bảy tấm bia. Mỗi tấm đều khắc đầy mới tính là xong. Chỉ tấm này, tôi để một chỗ trống."
Ông ngồi xổm xuống, móc trong hộp dụng cụ ra một cây đục nhỏ, xoay trong tay một vòng.
"Anh có biết thứ khó khắc nhất là gì không?"
"Gì?"
"Chỗ trống." Thầy Trần nói, "Anh phải nghĩ trước người này nên ở đâu, rồi đẩy tất cả chữ xung quanh về phía đó. Đẩy đều, đẩy ngay ngắn, đẩy đến mức người khác không nhìn ra chỗ này thiếu một người. Anh nhìn càng lâu, càng thấy người này đang ở đó, chỉ là tạm thời chưa đến."
Ông đứng dậy, vỗ bột đá trên tay.
"Tôi khắc chỗ trống này, khắc một buổi chiều."
"Tại sao?"
"Vì tôi nghĩ," thầy Trần nói, "dù người ấy không thể tự mình ở đây, vẫn nên có ai đó giữ lại một chỗ cho anh ta."
Gió từ biển thổi vào, thổi cờ phần phật. Xa xa có người gọi tên ai đó, gọi rất nhiều lần.
Thẩm Kinh Lan đặt tay lên chỗ trống đó, đặt rất lâu.
Lễ tan rồi, người dần đi hết.
Vòng hoa để lại trước bia, dải giấy bị gió thổi đứt, bay rất xa. Thầy Trần và học trò thu dọn dụng cụ, khóa lều, đạp xe ba bánh đi.
Tô Kiến Vi bị lãnh đạo kéo đi họp, trước khi đi quay đầu nhìn một cái, vẫy tay.
Cuối cùng trên đê chỉ còn ba người.
Thẩm Kinh Lan, Ôn Như Ký, và một người ngồi xe lăn.
Lục Trầm Chu tự đẩy xe đến, trên đùi đắp một tấm chăn, ngoài đồ bệnh nhân khoác chiếc áo không vừa người. Ông dừng cách bia năm mét, không động.
"Tôi không lại gần." Ông nói.
"Tại sao?"
"Vì tôi không xứng." Lục Trầm Chu nói, "Trên này có những cái tên tôi tự tay viết vào. Tám trăm bốn mươi ba, tôi chọn từng cái một. Tôi đứng trước họ, họ sẽ hỏi tôi tại sao."
"Hôm nay Cục trưởng không đến đây để xin lỗi."
"Vậy tôi đến làm gì?"
"Đến xem một chữ." Thẩm Kinh Lan nói.
Anh đi đến mặt sau bia, tìm chỗ trống đó, chỉ vào hàng chữ nhỏ dưới đó.
Vị trí này chờ bổ sung
"Thầy Trần khắc." Anh nói, "Ông ấy nói dù người ấy không thể tự mình ở đây, vẫn nên có ai đó giữ lại một chỗ cho anh ta."
Lục Trầm Chu đẩy xe lăn, từ từ lại gần.
Lại gần rồi, ông ngẩng đầu, nhìn chỗ trống đó.
Ông nhìn hồi lâu, mãi vẫn không dời mắt.
Rồi ông móc từ túi áo ra một cây b/út, một cây b/út bi rất cũ, nắp đã nứt.
"Anh làm gì?"
"Điền vào." Lục Trầm Chu nói.
"Không được điền."
"Tại sao không được?"
"Đây là đá, không phải giấy. Anh không thể cứ thế mà viết lên được. Hơn nữa —"
"Hơn nữa anh ấy không nhớ." Lục Trầm Chu nói, "Anh ấy biết tấm bia này là vì anh ấy mà dựng, anh ấy cũng không để tâm."
Ông giơ tay, đầu b/út lơ lửng trên chỗ trống, dừng rất lâu, tay run liên tục.
Cuối cùng ông không viết.
Ông cất b/út, hai tay ôm mặt, vai sụp xuống.
"Tôi thử bốn lần." Ông nói, "Bốn lần. Năm 1986 một lần, nổ đê, bốn trăm mười bảy người. Năm 2003 một lần, phát thanh, hơn tám trăm. Năm 2019 một lần, không làm gì, nhìn nó dâng. Lần này, lần thứ tư, tôi tự đứng vào căn phòng dưới tháp phát, chờ căn phòng ấy đổ sập."
Ông bỏ tay xuống, mắt đỏ.
"Anh biết bốn lần này, mỗi lần tôi tính cái gì không?"
"Gì?"
"Tôi tính," Lục Trầm Chu nói, "có tìm được cách nào để người đó không phải xuống dưới không."
Gió rất lớn. Chăn bị thổi tung một góc, ông đưa tay giữ.
"Tôi tính mãi vẫn không tìm ra cách." Ông nói, "Tôi tính ba mươi năm, hơn bốn ngàn trang, mười bảy phiên bản thuật toán, chín mươi ba mô hình. Tất cả các mô hình đều đưa ra cùng một kết luận: phải có một người vào trong. Chỉ là lần này, vào là hai người."
Ông ngẩng đầu.
"Kinh Lan."
"Ừ."
"Hôm qua tôi đến tòa án."
"Ừ."
"Vụ án đã được khởi tố. Cố ý g/i/ế/c người, lạm dụng chức quyền, làm giả công văn." Lục Trầm Chu nói, "Kiểm sát viên hỏi tôi có gì bổ sung không. Tôi nói có."
"Gì?"
"Tôi nói, xin sao một bản án, gửi đến ban quản lý đài tưởng niệm đê Bắc Tế Châu." Lục Trầm Chu nói, "Tôi muốn đặt nó dưới chân bia."
"Tại sao?"
"Vì sau này sẽ có người đứng đây, hỏi một câu." Lục Trầm Chu nói, "Anh ta sẽ hỏi: năm đó những người đó, dựa vào gì quyết định ai đáng c/h/ế/t."
Ông đẩy xe lăn, quay người, lưng đối diện bia.
"Tôi muốn để tảng đá đó nói với anh ta: dựa vào một lũ điên, tính cả đời, tính sai ba lần, lần thứ tư mới miễn cưỡng tính đúng. Còn câu trả lời này, không đáng tưởng niệm, chỉ đáng cảnh giác."
Bánh xe lăn trên đá xanh kêu lọc cọc.
Đi được mấy bước, ông dừng lại, không quay đầu:
"À."
"Ừ."
"Hôm nay anh ấy đến."
Thẩm Kinh Lan đột ngột ngẩng đầu: "Gì?"
"Bùi Độ Xuyên." Lục Trầm Chu nói, "Lúc lên đây, tôi gặp anh ấy ở dưới đê. Anh ấy đứng đó gần một tiếng rồi. Từ lúc buổi lễ bắt đầu đã đứng đó, tựa vào lan can nhìn lên."
"Anh ấy ở đâu?"
"Dưới." Lục Trầm Chu chỉ ra phía ngoài đê, "Anh ấy nói không lên. Anh ấy nói trên đó đông người quá, ch/óng mặt."
Thẩm Kinh Lan đã chạy.
Phía ngoài đê có một đoạn bậc thang cũ, bị nước ngâm, mọc một lớp rêu xanh. Thẩm Kinh Lan từng bậc từng bậc chạy xuống, chân đau như đứt, anh không để ý.
Dưới bậc thang là một bãi bồi, sau khi nước rút lộ ra, toàn muối xám trắng, giẫm lên kêu rột rột.
Bùi Độ Xuyên đứng bên mép nước.
Anh mặc một chiếc áo khoác cũ, tay áo dài quá mu bàn tay. Cánh tay trái vẫn còn treo trước n/g/ự/c, vết bầm trên mặt đã nhạt đi một nửa, chỉ còn chút sắc vàng. Anh đi chân trần, ống quần xắn đến đầu gối, trên da phủ một lớp muối trắng.
Nghe tiếng bước chân, anh ngoảnh đầu lại.
Nhìn thấy Thẩm Kinh Lan, anh thoáng sững người, rồi lịch sự gật đầu.
"Sao anh chạy vội thế?"
"Anh —" Thẩm Kinh Lan thở hổn hển, "Sao anh không lên trên?"
"Tôi có lên thử." Bùi Độ Xuyên đáp. "Nhưng mới đi được nửa đường, thấy đông người quá nên lại xuống."
"Anh đã nhìn thấy gì?"
"Một tảng đá. Trên đó khắc rất nhiều tên người."
Anh quay đi, tiếp tục nhìn ra biển.
"Không hiểu sao nhìn những cái tên ấy, tôi lại thấy khó chịu lắm." Anh khẽ nói. "Khó chịu đến mức không thể đứng ở đó thêm được nữa, nên tôi xuống đây."
Thẩm Kinh Lan bước đến bên cạnh anh.
"Anh có nhớ cái tên nào không?"
"Không." Bùi Độ Xuyên lắc đầu. "Tôi chẳng nhận ra ai cả. Nhưng khi nhìn những cái tên ấy, tôi lại có cảm giác lẽ ra mình phải biết họ."
Anh cúi đầu nhìn đôi chân mình.
"Còn cái này nữa."
Anh giơ bàn tay phải ra trước mặt Thẩm Kinh Lan.
Giữa lòng bàn tay là một vết sẹo còn mới, mảnh nhưng kéo dài từ bên này sang bên kia. Trông như vết thương do dây cáp hoặc dây thép siết qua, nay đã liền da.
"Tôi hỏi bác sĩ về vết sẹo này rồi." Bùi Độ Xuyên nói. "Bác sĩ bảo kiểu thương tích này thường do ma sát lặp đi lặp lại trong thời gian dài, chứ không phải chỉ một lần. Có lẽ trước đây tôi từng làm công vi