Đệ Cửu Thứ Trướng Triều

Chương 6: Tin Đồn Đến Trước

Chiếc máy vô tuyến ở hải đăng là do Sở Chiêu Dã tự tay lắp đặt.

Khi Thẩm Kinh Lan và Bùi Độ Xuyên xông vào phòng, Sở Chiêu Dã đang ngồi xổm trước chiếc máy cũ kê sát góc tường. Anh áp tai vào loa, một tay chậm rãi xoay núm điều chỉnh. Gần một trăm người chen chúc trong căn phòng. Đệm chống ẩm, túi ngủ và thùng giấy phủ kín sàn nhà, gần như chẳng còn chỗ đặt chân. Không khí nồng nặc mùi quần áo ướt, mồ hôi và mì ăn liền. Tiếng trẻ con khóc, tiếng người già ho khan, xen lẫn tiếng ai đó lẩm nhẩm tụng kinh. Thấy Thẩm Kinh Lan bước vào, hàng chục ánh mắt lập tức đổ dồn về phía anh, rồi lại lặng lẽ cúi xuống — họ không dám hỏi, sợ câu trả lời vẫn là “chưa đến”.

“Tình hình thế nào rồi?” Thẩm Kinh Lan hỏi.

Sở Chiêu Dã ngẩng đầu. Mặt anh lấm lem dầu máy: “Có người chiếm tần số rồi.”

“Ai?”

“Không biết. Không phải kênh hàng hải, không phải khí tượng, cũng không phải tần số chính của Cục Phòng Tai.” Anh tháo tai nghe đưa qua, “Cậu tự nghe đi.”

Thẩm Kinh Lan đeo vào.

Loa phát ra giọng một người đàn ông, trầm ổn, ôn hòa, nhả chữ rõ ràng, từng lời đều được cân nhắc kỹ lưỡng trước khi thốt ra:

“Công dân Tế Châu xin chú ý. Theo phân tích mới nhất của Cục Phòng Tai thành phố, đợt thủy triều này sẽ đạt đỉnh vào hai mươi ba giờ bốn mươi phút tối nay, mực nước cao nhất dự kiến bốn phẩy tám hai mét. Đề nghị cư dân khu phố cũ, dọc đê Bắc, khu cảng vụ lập tức sơ tán theo phương án sơ tán đợt ba. Nhắc lại, đề nghị sơ tán theo phương án sơ tán đợt ba.”

Rồi dừng hai giây, phát lại từ đầu.

Thẩm Kinh Lan tháo tai nghe, đầu ngón tay lạnh ngắt.

“Phương án sơ tán đợt ba.” Anh nói, “Đó là phương án do Lục Trầm Chu lập ra. Nó chưa từng được công bố.”

“Vậy đây không phải phát thanh chính thức.” Bùi Độ Xuyên đứng ở cửa, áo gió vẫn nhỏ nước, “Có kẻ đã đ/á/n/h cắp phương án, sửa thành bản tin rồi phát đi.”

“Mục đích là gì?” Sở Chiêu Dã hỏi. “Kêu mọi người bỏ chạy sao?”

“Kêu tất cả mọi người chạy cùng một lúc.” Thẩm Kinh Lan nói, “Tuyến sơ tán của phương án đợt ba chỉ có một trục đường chính, lưu lượng thiết kế tám nghìn người mỗi giờ. Nếu cả thành phố cùng đổ lên đó —”

“Tắc cứng hết.” Bùi Độ Xuyên nói.

“Tắc trên đường, nước đến, không ai chạy được.” Thẩm Kinh Lan ném tai nghe lại lên bàn, “Hắn muốn biến số người c/h/ế/t thành ‘bất khả kháng’. Như vậy khi nước rút, sẽ không ai điều tra điểm nổ, chỉ điều tra con đường.”

Trong phòng bỗng im lặng.

Một người phụ nữ bế con đứng dậy, giọng run: “Vậy… vậy chúng ta phải làm sao?”

Thẩm Kinh Lan nhìn cô. Người phụ nữ còn trẻ, mắt đỏ hoe, đứa trẻ trong lòng đã ngủ, tay vẫn nắm nửa miếng bánh quy.

“Ở lại đây.” Anh nói, “Hải đăng nằm trên vách đá cao sáu mươi hai mét. Lần cao nhất của thủy triều đen là mười ba phẩy bảy mét, nhưng đến đây chỉ còn hai mét. Mọi người đừng đi đâu cả.”

“Chồng tôi còn trong thành phố.” Cô nói, “Anh ấy nói đi đón bố mẹ tôi.”

“Anh ấy vào không được.” Thẩm Kinh Lan nói, “Lệnh phong cảng có hiệu lực rồi, cầu đã phong tỏa.”

“Vậy tôi phải đi đón anh ấy.”

“Cô ra ngoài rồi không về được.”

Người phụ nữ nhìn anh, nước mắt trào ra nhưng không bật khóc. Cô chỉ c/ắ/n c/h/ặ/t môi, siết đứa trẻ trong lòng thêm một chút.

Mọi người trong phòng đều nhìn Thẩm Kinh Lan. Hơn một trăm đôi mắt, già trẻ lớn bé, đều chờ anh cho một câu trả lời — một câu trả lời có thể khiến họ ngủ được tối nay.

Mà anh không đưa ra được.

Bởi Thẩm Kinh Lan hiểu rõ, điều tàn nhẫn nhất trong nước cờ của Lục Trầm Chu không nằm ở việc hắn muốn g/i/ế/c bao nhiêu người. Mà ở chỗ hắn ép những người bình thường phải tự quyết định số phận của mình. Ở lại, có thể c/h/ế/t. Ra ngoài, cũng có thể c/h/ế/t. Hai con đường, chỉ khác nhau ở cách c/h/ế/t. Dù họ lựa chọn thế nào, số người thiệt mạng cuối cùng vẫn sẽ nằm trong khoảng mà hắn đã tính toán từ trước.

“Ôn Như Ký đâu?” Bùi Độ Xuyên bỗng hỏi.

“Ra ngoài rồi.” Sở Chiêu Dã nói, “Đi một tiếng trước. Cô ấy nói bến số ba có vấn đề, phải đi xem.”

Tim Thẩm Kinh Lan chùng xuống.

“Cô ấy đi một mình?”

“Dẫn theo một thợ phụ.”

“Bao giờ về?”

“Không nói.”

Thẩm Kinh Lan chộp lấy micro trên bàn, nhấn nút phát: “Ôn Như Ký, nghe được xin trả lời. Ôn Như Ký.”

Loa chỉ có tiếng rè rè.

Anh nhấn lần nữa: “Ôn Như Ký, tôi là Thẩm Kinh Lan. Trả lời.”

Ba giây. Năm giây. Mười giây.

Rồi trong tiếng rè rè nổi lên một thứ khác — không phải tiếng người, là tiếng nước. Tiếng nước rất lớn, như có người cắm thẳng micro vào sóng. Tiếp theo là một tiếng hét rất ngắn, bị cắt đứt, không còn nữa.

Thẩm Kinh Lan buông nút, ngón tay cứng đờ trên nhựa.

“Tô Kiến Vi.” Anh quay đầu, “Theo mô hình của cô, mực nước hiện tại là bao nhiêu?”

Tô Kiến Vi ngồi ở bàn cạnh cửa sổ, kính trượt xuống mũi, trước mặt mở ba chiếc laptop, màn hình đầy đường cong. Cô ngẩng đầu, mặt trắng như giấy.

“Ba phẩy hai một.” Cô nói.

“Đo khi nào?”

“Một phút trước.”

“Tốc độ tăng?”

“Không phẩy chín mét mỗi giờ.” Ngón tay cô run, “Và… và đang tăng tốc.”

Thẩm Kinh Lan tính nhanh trong đầu. Ba phẩy hai một, không phẩy chín mỗi giờ, tăng tốc. Đến bốn phẩy tám hai còn chưa đầy hai tiếng. Không, không đúng — mực nước đang dâng nhanh dần, không còn tăng theo tốc độ cố định nữa. Đoạn cuối sẽ nhảy vọt.

“Tô Kiến Vi.” Anh nói, “Nói thật.”

Tô Kiến Vi tháo kính, lấy mu bàn tay lau mắt.

“Một tiếng tư.” Cô nói, “Nhiều nhất là một tiếng rưỡi.”

Có người trong phòng hít vào một hơi. Có người bắt đầu thu dọn đồ, luống cuống nhét túi ngủ vào ba lô. Một ông già đứng dậy, đi ra cửa, nhìn trời, rồi ngồi lại, vùi đầu vào đầu gối.

“Mọi người.” Thẩm Kinh Lan nâng giọng, “Nghe tôi nói một câu.”

Không ai để ý.

“Nghe tôi nói một câu!” Anh gần như gào lên.

Trong phòng im lặng một thoáng.

“Bây giờ mọi người xuống núi,” anh nói, “trên đường sẽ tắc bốn tiếng. Cầu phong tỏa, chỉ đi được đường cũ, đường cũ mỗi lần chỉ qua được một xe. Mọi người tính xem, một trăm hai mươi người, cộng với mấy vạn người từ trong thành phố đổ ra, chúng ta còn đường nào mà thoát?”

“Vậy chúng tôi ở đây chờ c/h/ế/t à?” Có người hét.

“Không.” Thẩm Kinh Lan nói, “Mọi người ở đây sống.”

“Dựa vào đâu mà anh dám chắc mình đúng?”

“Vì tôi đã c/h/ế/t một lần rồi.”

Lời vừa dứt, cả căn phòng lập tức im phăng phắc.

Thẩm Kinh Lan thở một hơi, hạ giọng: “Tôi biết câu này nghe như người điên nói. Mọi người có thể không tin. Nhưng mọi người có thể tin một điều — máy phát điện trong tòa nhà này đủ chạy hai mươi ngày, nước đủ uống một tháng, gạo đủ ăn đến giữa tháng sau. Tôi đã mất chín mươi ngày để chuyển toàn bộ vật tư lên đây. Lúc tôi chuyển, mọi người cười tôi nuôi cá.”

Có người cười khẽ một tiếng, rồi vội nín lại.

“Tôi không yêu cầu mọi người cảm ơn.” Thẩm Kinh Lan nói, “Tôi chỉ yêu cầu một điều: cửa khóa từ bên trong, ai gõ cũng đừng mở, trừ ba người chúng tôi. Ôn Như Ký, Sở Chiêu Dã, Tô Kiến Vi, mọi người nhận ra. Những người khác, nhất loạt không mở.”

“Vậy còn anh?” Người phụ nữ bế con hỏi.

“Tôi xuống núi.”

“Tại sao?”

“Vì dưới núi còn người chưa lên.” Thẩm Kinh Lan nói, “Vì có một trăm hai mươi bảy cái tên, viết trong một cuốn sổ ba mươi năm trước ở nhà tôi, trong đó tám mươi bốn cái tên có dấu gạch chéo phía sau. Tôi muốn thử xem lần này có thể đổi dấu gạch chéo thành dấu tròn không.”

Anh quay người đi về phía cửa.

Một bàn tay níu lấy tay áo anh.

Là Bùi Độ Xuyên.

“Đi cùng.” Bùi Độ Xuyên nói.

“Anh ở lại.”

“Không thể.”

“Bùi Độ Xuyên —”

“Thẩm Kinh Lan.” Giọng Bùi Độ Xuyên rất thấp, chỉ anh nghe được, “Vừa nãy trên xe cậu nói, hai người là để phá bài toán này. Vậy cậu nói cho tôi biết, bài toán này phá thế nào.”

Thẩm Kinh Lan sững người.

“Cậu không biết.” Bùi Độ Xuyên nói, “Cậu biết mình muốn làm gì, nhưng chưa biết phải làm thế nào. Mà tôi có kinh nghiệm tám lần thất bại. Cậu biết trong tám lần đó tôi nhớ nhất điều gì không? Không phải tôi c/h/ế/t thế nào. Mà là trước mỗi lần c/h/ế/t, tôi nhìn thấy gì.”

Anh buông tay, móc từ túi áo gió ra một tờ giấy gấp rất nhỏ, mở ra.

Trên giấy là một hình vẽ bằng b/út chì, đường nét ngoằn ngoèo, như vẽ theo ký ức. Bức vẽ phác họa kết cấu bên trong đường hầm, vị trí cột chịu lực, cửa cống, khoang cộng hưởng, và một đường đ/á/n/h dấu đỏ, từ khoang vòng ra biển ngoài, rồi vòng lại, tạo thành một vòng kín.

“Lần luân hồi thứ năm,” Bùi Độ Xuyên nói, “tôi không xuống nước. Tôi treo một chiếc đồng hồ đo áp suất lên thanh thép ở cửa ngoài đường hầm. Ba phút trước khi cộng hưởng bắt đầu, kim áp kế nhảy một cái — không phải nhảy lên, mà là rơi xuống trước, rồi mới vọt lên.”

“Áp suất âm.” Tô Kiến Vi không biết đã lại gần từ lúc nào, dán mắt vào hình vẽ, “Trước khi cộng hưởng khởi động, khoang sẽ hút một ngụm nước trước, tạo áp suất thấp tức thời, rồi nước biển tràn ngược vào, chồng lên thành đỉnh sóng.”

“Đúng.” Bùi Độ Xuyên nói, “Lúc đó tôi không biết điều này nghĩa là gì. Tôi chỉ nhớ khoảnh khắc kim rơi xuống, trên mặt biển xuất hiện một vòng — một vòng rất lớn, đường kính ít nhất hai trăm mét, mặt nước lõm xuống toàn bộ, như có thứ gì đó bên dưới hít một hơi.”

Mắt Tô Kiến Vi sáng lên.

“Hít một hơi.” Cô nói, “Đó là khoảng thời gian hệ thống cộng hưởng mất ổn định. Khoang cộng hưởng trong khoảnh khắc hít vào, hướng dòng nước bên trong là hướng ra ngoài. Nếu lúc đó đóng cống —”

“Không cần dòng nước ngược.” Thẩm Kinh Lan tiếp lời, “Cửa cống tự nó là chướng ngại vật. Chỉ cần trong khoảnh khắc hít vào kết thúc, tràn ngược bắt đầu, đóng cửa cống đến một nửa — nước biển đập vào cửa cống, năng lượng sẽ bị tán loạn, không chồng lên được.”

“Sai số bao nhiêu?”

“Sai số khoảng cộng trừ chín mươi giây.” Tô Kiến Vi nói, “Nhưng lần này khác. Lần này chúng ta có dữ liệu áp kế, có hình vẽ, có mốc thời gian. Chúng ta có thể dự đoán.”

Cô xoay máy tính lại, trên màn hình là một đường cong đang bò lên.

“Và…” cô ngập ngừng, “tôi vừa phát hiện một chuyện.”

“Gì?”

“Gia tốc dâng của mực nước,” cô chỉ vào một điểm gãy rất nhỏ trên màn hình, “ở ba phẩy hai một mét, nhảy một cái. Biến động ấy không thể xảy ra tự nhiên. Là có người động vào thứ gì đó bên dưới.”

“Có người cố tình tăng cường nguồn kích thích.” Thẩm Kinh Lan nói.

“Đúng.” Giọng Tô Kiến Vi bắt đầu run, “Có người đặt thứ gì đó gần miệng phun nhiệt dịch. Có thể là t/h/u/ố/c nổ, có thể là thứ khác. Dù là gì, nó đang liên tục cung cấp thêm năng lượng cho khoang. Nên thủy triều sẽ đến sớm hơn, cao hơn mô hình dự đoán, và —”

Cô ngẩng đầu.

“Và nó sẽ không dừng ở bốn phẩy tám hai. Nó sẽ tăng mãi, cho đến khi khoang tự sụp.”

“Sụp thì sao?”

“Toàn bộ nền địa chất dưới vịnh Tế Châu sẽ sụt lún.” Cô nói, “Không phải ngập một con phố. Là cả vịnh lún ba đến năm mét. Vĩnh viễn.”

Trong phòng im như c/h/ế/t.

Ngoài cửa sổ, mưa càng lớn.

Đường xuống núi khó đi gấp mười lần lúc lên.

Không phải vì dốc, mà vì người.

Xe cộ nối đuôi nhau, tắc cứng trên con đường cũ. Tiếng còi xe nối nhau inh ỏi, như tiếng kêu rên của một con vật hấp hối. Có người bỏ xe đi bộ, đeo ba lô, xách vali, luồn lách trong khe hở dòng xe. Một đứa trẻ ngã, khóc, không ai đỡ — không phải không muốn, mà không đỡ nổi, người sau đẩy người trước, tất cả bị cuốn trong một lực đẩy về phía trước, không ai dừng lại được.

Đi thêm một đoạn, Thẩm Kinh Lan đành tấp xe vào lề, cùng Bùi Độ Xuyên xuống đi bộ.

Đi chưa đầy hai trăm mét, cửa kính một chiếc xe bên cạnh hạ xuống, một người đàn ông thò đầu ra, mắt đỏ ngầu: “Anh ơi, có nước không? Con tôi một ngày chưa uống nước.”

Thẩm Kinh Lan móc từ túi bên ba lô ra một chai, đưa qua.

Người đàn ông nhận, tay run không mở nổi nắp. Bùi Độ Xuyên đưa tay mở giúp, đưa lại. Người đàn ông uống vội một ngụm, lại cho con uống, rồi ngẩng đầu nhìn họ, bỗng khóc.

“Hai anh đi đâu?”

“Vào thành phố.”

“Đừng đi.” Người đàn ông nói, “Trong thành phố loạn hết rồi. Phát thanh nói bốn phẩy tám hai, lại nói hai nghìn mấy người… vợ tôi ở khu phố cũ, tôi gọi mãi không liên lạc được, chẳng nghe nổi một lời của cô ấy…”

Thẩm Kinh Lan không biết nói gì. Anh chỉ có thể nói: “Đi lên núi. Hải đăng, trên đỉnh vách đá, có chỗ.”

“Hải đăng?” Người đàn ông sững, “Cái hải đăng bỏ hoang đó?”

“Bây giờ không bỏ hoang nữa.” Bùi Độ Xuyên nói, “Trong đó có máy phát, có nước, có gạo, ở được một trăm hai mươi người. Còn ba mươi chỗ.”

Mắt người đàn ông sáng lên, sáng đến mức người ta không dám nhìn.

“Đi thế nào?”

“Qua khúc cua thứ ba, có một đường đất, đầu đường có một cột mốc đổ. Lên khoảng hai cây số.” Thẩm Kinh Lan nói, “Đến gõ cửa, gõ ba cái, dừng một chút, gõ hai cái. Trong có người mở.”

“Cảm ơn.” Người đàn ông nói, “Cảm ơn hai anh.”

Anh ta kéo cửa kính lên. Xe nhích một tấc, lại dừng.

Thẩm Kinh Lan và Bùi Độ Xuyên tiếp tục đi. Mưa đập vào mặt, đau rát.

Đi rất lâu, Bùi Độ Xuyên bỗng nói: “Vừa nãy cậu cho anh ta một hy vọng.”

“Ừ.”

“Hy vọng là thứ đắt giá nhất.” Bùi Độ Xuyên nói, “Đắt hơn nước, đắt hơn gạo. Một khi đã trao đi, cậu không thể thu lại.”

“Anh muốn nói gì?”

“Tôi muốn nói,” Bùi Độ Xuyên ngừng một chút, “hải đăng thật ra chỉ ở được một trăm hai mươi người. Cậu nói còn ba mươi chỗ, là lừa anh ta.”

Thẩm Kinh Lan không nói.

“Tôi biết.” Bùi Độ Xuyên nói, “Tôi sẽ không vạch trần cậu. Tôi chỉ muốn nói — cậu đã bắt đầu làm việc Lục Trầm Chu làm.”

“Gì?”

“Số học.” Bùi Độ Xuyên nói, “Cậu đang tính ai lên được, ai không lên được. Cậu đang chia suất. Hôm nay cậu cho người đó một suất giả, ngày mai sẽ có người thứ hai, thứ ba đến gõ cửa. Cậu mở hay không?”

Tiếng mưa ào ào.

“Tôi mở.” Thẩm Kinh Lan nói.

“Mở đến khi nào?”

“Mở đến khi không chứa được nữa.”

“Không chứa được nữa thì sao?”

Thẩm Kinh Lan dừng bước, quay người nhìn anh.

“Vậy tôi đưa những người không chứa được đến chỗ khác.” Anh nói, “Ba con thuyền, ba con thuyền Ôn Như Ký kiếm được. Thuyền chở người ra biển, vòng qua vịnh, lên bờ từ phía nam. Phía nam không có khoang cộng hưởng.”

“Thuyền đủ không?”

“Không đủ.”

“Vậy vẫn là số học.”

“Phải.” Thẩm Kinh Lan nói, “Nhưng cách tính của tôi khác Lục Trầm Chu.”

“Khác thế nào?”

“Hắn chỉ tính xem phải hy sinh ít người nhất.” Thẩm Kinh Lan nói. “Còn tôi muốn tìm cách cứu thêm dù chỉ một người. Hắn coi những người không thể cứu là con số phải loại bỏ. Tôi thì không.”

“Kết quả có thể giống nhau, nhưng cách chúng tôi đi đến kết quả ấy hoàn toàn khác.”

Bùi Độ Xuyên nhìn anh, rất lâu không nói.

Rồi anh cười, chỉ nhếch một bên mép.

“Đi thôi.” Anh nói, “Không đi nữa, thật sự không kịp.”

Nước ở khu thành phố đã ngập qua bắp chân.

Không phải nước biển, là nước mưa lẫn nước thải, đen ngòm. Lẫn trong dòng nước đen ngòm là túi nilon, thùng xốp và một chiếc dép trẻ con. Cửa hàng hai bên đường đều đóng, trên cửa cuốn có người phun sơn đỏ: Lên núi đi, đừng về nhà, bốn phẩy tám hai.

Cụm số cuối cùng còn được phun kín cả một bức tường, chữ lớn đến mức từ đầu phố này nhìn thấy đầu phố kia.

Thẩm Kinh Lan nhìn bức tường đó, trong lòng chùng xuống từng chút.

Người phun chữ này, biết bốn phẩy tám hai.

Trước khi bản tin giả được phát đi, chỉ có bốn người biết con số ấy: Thẩm Kinh Lan, Lục Trầm Chu, Bùi Độ Xuyên và Tô Kiến Vi.

Giờ đây, nó đã xuất hiện khắp thành phố.

“Hắn đang tranh thời gian.” Thẩm Kinh Lan nói, “Hắn còn đang giành quyền định đoạt câu chuyện mà mọi người sẽ tin. Khi nước rút, tất cả mọi người sẽ nhớ bốn chữ ‘bốn phẩy tám hai’, sẽ nhớ phát thanh nói sẽ có người c/h/ế/t, sẽ nhớ chính phủ không cứu chúng ta. Còn nguyên nhân thật — khoang cộng hưởng, dòng nhiệt dịch, công trình ba mươi năm trước — sẽ bị chôn dưới nước, mãi mãi không ai nhắc.”

“Vì nhắc lên, là phải nhắc Thẩm Ký Minh.” Bùi Độ Xuyên nói.

“Cũng phải nhắc tôi.”

“Cũng phải nhắc cậu.”

Khi họ rẽ vào con phố khu phố cũ, họ thấy x/á/c c/h/ế/t đầu tiên.

Là một ông già, nằm sấp trước cửa nhà, tay vẫn nắm chùm chìa khóa. Nước chỉ sâu đến đầu gối ông, ông không nên c/h/ế/t. Thẩm Kinh Lan ngồi xổm nhìn — không có vết thương, mặt tím, miệng hơi mở.

“Có thể là lên cơn đau tim.” Anh nói, “Sợ quá mà c/h/ế/t.”

Bùi Độ Xuyên đứng sau anh, không nói.

Đi vào trong, xác thứ hai, thứ ba. Một người ngã ở cầu thang, một người nằm trên xe điện. Đều không phải c/h/ế/t đuối. Họ đã chờ đợi quá lâu, đến mức cơ thể gục xuống trước khi nước kịp dâng tới.

Xác thứ tư là một người trẻ, nằm trước cửa hiệu t/h/u/ố/c, bên cạnh rải đầy hộp t/h/u/ố/c. Thẩm Kinh Lan nhặt lên xem — t/h/u/ố/c huyết áp, mười mấy hộp, đều rỗng.

“Có lẽ anh ta đến đây tìm t/h/u/ố/c cho người nhà.” Thẩm Kinh Lan nói, “Nhưng không kịp trở về.”

Anh đặt hộp t/h/u/ố/c xuống, đứng dậy, tiếp tục đi.

Đi đến ngã phố thứ năm, anh nghe thấy tiếng s/ú/n/g.

Một tiếng giòn, rồi tiếng thứ hai, thứ ba. Có người hét: “Xếp hàng! Tất cả xếp hàng cho tôi! Ai chen tôi b/ắ/n c/h/ế/t!”

Thẩm Kinh Lan và Bùi Độ Xuyên nhìn nhau, vòng qua.

Vòng qua rồi, Thẩm Kinh Lan mới nhìn rõ đó là một trạm xăng. Mấy chục chiếc xe vây kín hai trụ bơm xăng. Đám đông xô đẩy, ẩu đả, còn một nhân viên mặc đồng phục đang giơ khẩu s/ú/n/g săn lên trời. Có lẽ chính anh ta vừa nổ ba phát s/ú/n/g cảnh cáo.

“Đi đường khác.” Bùi Độ Xuyên nói.

Họ luồn qua con hẻm nhỏ. Hẻm rất hẹp, hai bên là tường cao, nước đọng ở đây sâu hơn, ngập đến đùi. Thẩm Kinh Lan lội nước đi, bỗng thấy chân chạm phải thứ gì đó.

Mềm.

Anh cúi đầu.

Trong nước trôi một khung ảnh, kính vỡ, ảnh ngâm trắng bệch. Trên ảnh là một gia đình ba người, ở bờ biển, đứa trẻ cười tít cả mắt.

Anh cúi xuống vớt khung ảnh, vẩy nước, đặt lên bệ cửa sổ nhà bên cạnh.

“Làm gì?” Bùi Độ Xuyên hỏi.

“Lỡ có người đến tìm.”

“Không ai đến tìm.”

“Tôi biết.” Thẩm Kinh Lan nói, “Nhưng lỡ đâu.”

Cuối hẻm là một tòa nhà cũ sáu tầng. Trước cửa tòa nhà đứng một người, mặc đồ công nhân màu cam, tóc ngắn ướt dán vào đầu, tay cầm một thanh sắt.

Là Ôn Như Ký.

Cô thấy họ, sững một chút, rồi chống thanh sắt xuống đất, giọng khàn đến mức gần như không nhận ra:

“Sao giờ mới đến.”

“Thuyền đâu?” Thẩm Kinh Lan hỏi.

“Hai chiếc.” Ôn Như Ký nói, “Chiếc thứ ba bị cướp.”

“Người đâu?”

“Thợ phụ c/h/ế/t rồi.”

Giọng Ôn Như Ký đều đều, bình thản đến đáng sợ, như thể cô chỉ đang nói về thời tiết.

“Nước ở bến tàu đột ngột dâng lên. Cậu ấy không chạy kịp.”

Cô ngừng một chút.

“Tôi đã nắm được tay cậu ấy.”

Ôn Như Ký cúi nhìn bàn tay mình.

“Nhưng cuối cùng… vẫn không giữ nổi.”

Cô chậm rãi giơ tay phải lên. Một vết thương sâu xé ngang lòng bàn tay, mép da trắng bệch vì ngâm nước, m/á/u vẫn rỉ ra từng chút.

Thẩm Kinh Lan móc băng từ ba lô, nắm tay cô quấn ngay.

“Đau thì nói.”

“Không đau.”

“Ôn Như Ký.”

“…Đau.” Cô hít một hơi, “Mẹ nó, đau thật.”

Quấn xong, Thẩm Kinh Lan đứng dậy: “Tầng ba thế nào?”

“Ở hơn bốn mươi người.” Ôn Như Ký nói, “Đều là người không đi được. Người già, người bệnh, người bế em bé. Tôi đã đóng kín