Nước vừa rút xuống ngang mắt cá chân, cả Tế Châu đã bốc lên thứ mùi tanh nồng như một con cá bị m/ổ b/ụ/n/g.

Mùi bùn, dầu diesel, thức ăn thối rữa và khí metan từ cống ngầm trộn lẫn vào nhau, tanh nồng đến mức như bám c/h/ặ/t nơi cuống lưỡi, khiến người ta buồn nôn. Trời vẫn xám, nhưng mây đã nứt ra, ánh sáng cắt chéo xuống, soi thấy đường viền méo mó của cả thành phố — những tòa nhà vẫn sừng sững ở đó, nhưng nghiêng ngả, xiêu vẹo như một đám người say đang dìu nhau đứng vững.

Thẩm Kinh Lan xuống khỏi xuồng xung kích, chân bước vào bùn, rút không ra.

Đùi anh được quấn tạm một lớp băng do người lính trên xuồng đưa cho. Cái chân bị cột điện đè lên sưng bóng loáng, mỗi bước đi như có đinh xoay bên trong. Nhưng anh không dừng lại.

“Đi đâu?” Bùi Độ Xuyên hỏi sau lưng anh.

“Khu phố cũ.” Thẩm Kinh Lan nói. “Đếm người.”

“Quân đội đang đếm.”

“Họ đang thống kê người sống.” Thẩm Kinh Lan nói. “Còn tôi muốn biết có bao nhiêu người đã không qua khỏi.”

Điểm tập trung tạm thời của khu phố cũ nằm trên một mảnh đất cao, vốn là một trường tiểu học, sân trường cao hơn mặt đường hai mét, nước không lên tới. Giờ đây, sân trường chật kín người. Hơn chục chiếc lều quân dụng màu xanh được dựng san sát nhau, loa phóng thanh lặp đi lặp lại vị trí điểm đăng ký và điểm y tế.

Thẩm Kinh Lan và Bùi Độ Xuyên băng qua đám đông.

Không ai nhìn họ. Hoặc nói đúng hơn, có nhìn, rồi lại quay đi — không phải lạnh lùng, mà là một thứ sâu hơn: sau khi vừa trải qua một phen cận kề cái c/h/ế/t, người ta nhìn mọi thứ như thể có một lớp kính ngăn cách. Một người đàn ông ngồi trên bậc thềm, cầm chiếc giày trong tay, lật tới lật lui suốt hai mươi phút. Một người phụ nữ ôm ghì chiếc chăn ướt sũng vào lòng. Trong chăn trống không, nhưng cô vẫn siết c/h/ặ/t như đang ôm một đứa trẻ.

“Điểm đăng ký ở đằng kia.” Bùi Độ Xuyên nói.

“Không đi.”

“Tại sao?”

“Vì cái tên tôi cần tìm không có trên bảng của họ.”

Thẩm Kinh Lan móc từ trong n/g/ự/c ra tờ giấy. Tờ giấy từ ba mươi năm trước đã ngấm nước, sau đó được hơi ấm cơ thể hong khô. Mép giấy mềm nhũn như vải. Trên giấy ghi một trăm hai mươi bảy cái tên, trong đó có tám mươi bốn cái tên bị đ/á/n/h dấu chéo.

“Danh sách ông nội tôi lập.” Anh nói. “Đời trước c/h/ế/t bốn trăm mười bảy người. Đời này…”

Anh không nói hết.

“Đời này anh không biết.” Bùi Độ Xuyên tiếp lời. “Vì Lục Trầm Chu đã đổi thuật toán.”

“Đúng.” Thẩm Kinh Lan nói. “Nên tôi phải biết, sau khi anh ta đổi xong, rốt cuộc c/h/ế/t bao nhiêu.”

Sau bàn đăng ký ngồi ba người, hai tình nguyện viên, một người mặc đồng phục. Trên bàn chất từng chồng biểu mẫu, b/út bị nắm đến nóng bỏng.

Thẩm Kinh Lan đặt tờ giấy lên bàn: “Tôi muốn tra vài cái tên.”

Người mặc đồng phục ngẩng lên nhìn anh, ánh mắt mệt mỏi: “Người nhà?”

“Coi như vậy.”

“Tên.”

Thẩm Kinh Lan đọc cái đầu tiên: “Triệu Quế Lan, bảy mươi mốt tuổi, ngõ Hòe Thụ số bốn.”

Tình nguyện viên gõ vài cái trên máy tính, lắc đầu: “Không có.”

“Không có là sao?”

“Là không đăng ký.” Cô nói. “Có thể chưa đến điểm tập trung, có thể ở khu khác, có thể…”

Cô không nói tiếp.

Cái thứ hai, thứ ba, thứ tư. Toàn là “không có”.

Đọc đến cái thứ mười hai, Thẩm Kinh Lan dừng lại.

“Sao vậy?” Bùi Độ Xuyên hỏi.

“Không đúng.” Thẩm Kinh Lan nói. “Không thể nào mười hai người đều không đăng ký. Kể cả c/h/ế/t, cũng sẽ có người báo mất tích.”

Anh ngẩng đầu: “Chỗ các anh có danh sách mất tích không?”

“Có.” Người mặc đồng phục rút từ dưới bàn ra một cuốn sổ dày. “Nhưng tôi không khuyên anh lật.”

“Tại sao?”

“Vì quá dài.” Anh ta nói. “Và phần lớn cuối cùng sẽ bị gạch sang cột ‘xác nhận t/ử vong’.”

Thẩm Kinh Lan mở ra.

Trang đầu tiên, trang thứ hai, rồi đến trang thứ mười. Những cái tên chen chúc kín mặt giấy, được phân loại theo từng con phố. Ngón tay anh dò dọc từng hàng chữ, trượt đến ngõ Hòe Thụ —

anh khựng lại. Không phải không có tên nào, mà số người được ghi nhận mất tích ở đây chưa bằng một nửa số người bị đ/á/n/h dấu chéo trong danh sách của anh.

Anh lật tiếp, lật đến dọc đê Bắc, lật đến khu cảng vụ, từng trang từng trang, càng lật càng nhanh, mép giấy cứa đau đầu ngón tay.

“Sao rồi?” Bùi Độ Xuyên hỏi.

Thẩm Kinh Lan gấp sổ lại, tay hơi run.

“Thiếu.” Anh nói. “Thiếu hơn một trăm người so với dự tính.”

“Thiếu?”

“Trên danh sách ông nội tôi, vòng này phải c/h/ế/t tám mươi bốn người.” Giọng Thẩm Kinh Lan rất thấp. “Nhưng số người được ghi nhận mất tích thực tế, nhiều hơn con số đó hơn một trăm. Nói cách khác —”

“Lục Trầm Chu tính sai.”

“Không.” Thẩm Kinh Lan ngẩng đầu. “Anh ta không tính sai. Vấn đề là có người đã không hành động theo phương án anh ta dự tính.”

Hai người đồng thời nghĩ đến cùng một chuyện.

Phát thanh.

Toàn thành phố hoảng loạn, tất cả mọi người cùng lúc đổ lên cùng một con đường, cầu phong tỏa, đường tắc, nước đến.

Trong thuật toán của Lục Trầm Chu, ba mươi tám phần trăm số c/h/ế/t vì hoảng loạn này, được tính vào. Nhưng những người không có trên danh sách — những người vốn không nên c/h/ế/t, lại vì hoảng loạn chạy sai hướng — họ không có trên bất kỳ bảng nào.

Họ là những biến số nằm ngoài mọi phép tính.

“Ôn Như Ký.” Bùi Độ Xuyên đột nhiên nói.

“Ừ?”

“Ở tòa nhà của cô ấy, có bốn mươi bảy người lên sân thượng, nhưng cuối cùng chỉ còn bốn mươi hai người ở lại.” Bùi Độ Xuyên nói. “Trong năm người đó, có một người tự nhảy xuống vớt đồ. Còn một cụ già, không giữ được.”

“Anh muốn nói gì?”

“Tôi muốn nói,” Bùi Độ Xuyên nhìn anh, “bốn mươi hai người anh cứu, có mấy người trên danh sách ông nội anh?”

Thẩm Kinh Lan sững lại.

Anh cúi đầu nhìn tờ giấy, lần lượt đối chiếu từng cái tên.

Đối đến cái thứ bảy, tay anh dừng lại.

Ôn Như Ký, nữ, ba mươi bốn tuổi, bến số ba khu cảng vụ.

Sau tên vẽ một vòng tròn.

Không phải chéo. Là vòng tròn.

Anh tiếp tục đối xuống.

Sở Chiêu Dã, nam, hai mươi chín tuổi — khoanh tròn.

Tô Kiến Vi, nữ, hai mươi sáu tuổi — khoanh tròn.

Ba vòng tròn.

Anh dò tiếp xuống dưới, nhưng không tìm thấy tên Bùi Độ Xuyên.

Đương nhiên không có. Danh sách được lập từ năm 1986. Khi ấy, Bùi Độ Xuyên vẫn chưa được đưa vào công trình.

Thẩm Kinh Lan từ từ ngẩng đầu.

“Bốn mươi ba người ông nội tôi khoanh tròn,” anh nói, “là người có thể cứu.”

“Đúng.”

“Năm đó ông ấy tính ra, có bốn mươi ba người có thể sống, không cần c/h/ế/t.”

“Đúng.”

“Mà Ôn Như Ký, Sở Chiêu Dã, Tô Kiến Vi, đều nằm trong bốn mươi ba người đó.” Giọng Thẩm Kinh Lan bắt đầu căng. “Đây không phải trùng hợp.”

“Cái gì không phải trùng hợp?”

“Tôi thuê hải đăng, tích trữ vật tư, tìm thuyền, chuẩn bị nơi trú ẩn trên đỉnh vách đá —” Thẩm Kinh Lan nói. “Tôi tưởng là do tôi nghĩ ra. Nhưng nếu những ý nghĩ này, vốn không phải do tôi nghĩ ra thì sao?”

Gió thổi tung rèm lều, đập một tiếng.

“Ý anh là,” Bùi Độ Xuyên rất chậm nói, “có người vẫn luôn âm thầm dẫn dắt anh?”

“Trang cuối ghi chép của ông nội tôi.” Thẩm Kinh Lan nói. “‘Nếu có hai người, thì không cần một người’. Ông ấy luôn muốn tìm một cách không cần c/h/ế/t người. Ông ấy không tìm được, nên ông ấy phát điên. Nhưng nếu… nếu thứ ông ấy tìm được không phải phương pháp, mà là người thì sao?”

“Ý anh là gì?”

“Ý là,” Thẩm Kinh Lan nhìn anh, “lời giải của bài toán này, chưa bao giờ là đóng cống.”

“Vậy là gì?”

“Là để những người vốn có thể sống sót thực sự được sống.” Thẩm Kinh Lan nói. “Bốn mươi ba người. Ông ấy tính ra bốn mươi ba người này có thể sống, nên ông ấy dùng hết mọi cách, để bốn mươi ba người này sống. Hải đăng, thuyền, vật tư, vô tuyến — tất cả những thứ này, không phải để cứu cả thành phố. Là để cứu bốn mươi ba người này.”

“Vậy còn những người khác thì sao?”

Thẩm Kinh Lan không trả lời.

Bởi anh đã biết câu trả lời. Một câu trả lời tàn nhẫn đến mức không muốn thừa nhận.

Những người khác, chính là tám trăm bốn mươi người kia.

Ba giờ chiều, họ đến bệnh viện.

Bệnh viện Số Hai của thành phố nằm trên một khu đất cao, nước không vào, nhưng điện đã cắt hai lần, hành lang đầy cáng, dưới đất trải bạt nhựa, người nằm kéo dài đến tận cầu thang. Trong không khí là mùi cồn sát trùng trộn với mùi m/á/u, rất nồng.

Lục Trầm Chu đang nằm trong khu chăm sóc đặc biệt ở tầng bốn.

Thẩm Kinh Lan đứng ngoài cửa kính, nhìn rất lâu.

Lục Trầm Chu nằm trên giường bệnh, người cắm ống, mặt trắng như giấy, tay phải bó bột, đầu quấn băng. Con số trên máy theo dõi nhảy từng nhịp, ánh sáng xanh lá phản chiếu lên mặt anh ta.

Anh ta vẫn sống.

“Bị thương do vật nặng đè, gãy ba xương sườn, vỡ lá lách. Chúng tôi đã phẫu thuật cắt bỏ lá lách.” Một bác sĩ nói. “Phổi có nước, nhưng không nhiều. Giữ được mạng.”

“Bao giờ tỉnh?”

“Không biết. Có thể tối nay, có thể mai.” Bác sĩ nhìn họ một cái. “Các anh là người nhà?”

“Không.” Bùi Độ Xuyên nói. “Đồng nghiệp.”

Bác sĩ đi.

Thẩm Kinh Lan vẫn đứng trước cửa kính.

“Anh đang nghĩ gì?” Bùi Độ Xuyên hỏi.

“Tôi đang nghĩ,” Thẩm Kinh Lan nói, “tại sao anh ta không bỏ chạy?”

“Cái gì?”

“Căn nhà nhỏ dưới chân tháp phát đã sập.” Thẩm Kinh Lan nói. “Anh ta ngồi trên ghế trước cửa, đợi tôi. Khi nước đến, anh ta có ba phút để đi. Ba phút, đủ để anh ta chạy lên chỗ cao trên đỉnh đê. Anh ta không chạy.”

“Anh ta muốn c/h/ế/t.”

“Không.” Thẩm Kinh Lan lắc đầu. “Người muốn c/h/ế/t sẽ không ký giấy ủy quyền, không điều thuyền cứu hộ, không viết trong sổ ‘thử đáp án thứ năm’.”

Anh quay đầu lại.

“Anh ta đang đợi một kết quả.”

“Kết quả gì?”

“Đợi xem lần thử này rốt cuộc có thành công hay không.” Thẩm Kinh Lan nói. “Anh ta tự gánh lấy toàn bộ trách nhiệm, rồi ở lại ngay nơi nguy hiểm nhất, lấy chính cơ thể mình làm chốt khóa. Anh ta biết nước sẽ đến, biết nhà sẽ sập, biết có thể c/h/ế/t. Nhưng anh ta vẫn phải đứng đó — vì nếu lần này thành, anh ta muốn là người đầu tiên biết.”

Bùi Độ Xuyên im lặng rất lâu.

“Rồi sao?”

“Và anh ta đã sống sót.” Thẩm Kinh Lan nói. “Nên anh ta sẽ nói cho tôi đáp án.”

“Đáp án gì?”

“Lần thứ mười có đến không.”

Đồng hồ cuối hành lang gõ một tiếng. Bốn giờ.

Trên đường về hải đăng, họ nhìn thấy vụ cướp đầu tiên.

Trên con dốc giữa khu phố cũ và vùng đất cao, cửa cuốn một cửa hàng tiện lợi bị cạy mở, năm sáu thanh niên đang khiêng đồ ra: nước, gạo, pin, t/h/u/ố/c. Chủ tiệm là một ông già hơn sáu mươi, quỳ dưới đất kéo ống quần một thanh niên, bị đá một cái ngã ra, đầu đập vào khung cửa, m/á/u chảy dọc trán.

Không ai can thiệp.

Trên phố có nhiều người nhìn, nhìn, rồi quay đi.

Bước chân Bùi Độ Xuyên chậm lại.

“Đừng can.” Thẩm Kinh Lan nói.

“Cái gì?”

“Tôi nói đừng can.” Giọng Thẩm Kinh Lan rất phẳng. “Chúng ta chỉ có hai người, chân anh bị thương, trong tay tôi chỉ có một con d/a/o. Nếu xông lên rồi cả hai cùng bỏ mạng ở đây, một trăm hai mươi người trên hải đăng sẽ không còn ai lo lương thực.”

“Vậy là nhìn?”

“Nhìn.”

Họ đi ngang qua. Ông già vẫn kéo ống quần thanh niên đó, thanh niên lại đá thêm một cái, c/h/ử/i một câu rất khó nghe.

Qua khỏi góc phố, Thẩm Kinh Lan dừng lại, dựa vào tường, nhắm mắt.

“Anh vừa nghĩ gì?” Bùi Độ Xuyên hỏi.

“Tôi đang nghĩ,” Thẩm Kinh Lan nói, “nếu đây là một phần trong thuật toán của Lục Trầm Chu, anh ta sẽ viết thế nào.”

“Viết thế nào?”

“Anh ta sẽ viết: mức độ tập trung vật tư quyết định tỷ lệ sống. Cướp bóc khiến vật tư bị phân tán. Vật tư phân tán sẽ dẫn đến thương vong thứ cấp. Vì vậy, phải loại bỏ những kẻ cướp bóc.”

“Anh sẽ không viết vậy.”

“Tôi sẽ không.” Thẩm Kinh Lan mở mắt. “Nhưng vừa rồi, chính tôi cũng đã nhẩm tính một lượt — đồ năm người đó cướp đi, đủ cho họ sống hai tuần. Hàng tồn trong tiệm ông già, đủ cho ba mươi người còn lại trên phố này sống mười ngày. Cướp xong, ba mươi người sẽ c/h/ế/t mấy người? Hai? Ba? Nếu tôi không can, c/h/ế/t ba. Nếu tôi can, có thể c/h/ế/t năm, kể cả tôi.”

Anh ngẩng đầu.

“Thấy chưa, tôi đã bắt đầu rồi.”

“Bắt đầu cái gì?”

“Tính toán.” Thẩm Kinh Lan nói. “Cái tính toán Lục Trầm Chu nói. Sáng nay tôi còn chỉ trích anh ta, vậy mà đến chiều, chính tôi đã âm thầm cân đong mạng sống của những người trên con phố ấy.”

Bùi Độ Xuyên không nói gì.

“Anh biết điều đáng sợ nhất là gì không?” Thẩm Kinh Lan nói. “Tính xong, tôi thấy con số đó đúng.”

Mưa lại bắt đầu rơi, những hạt nhỏ li ti giăng thành một màn mỏng.

“Thẩm Kinh Lan.” Bùi Độ Xuyên đột nhiên nói.

“Ừ.”

“Anh còn nhớ tôi là ai không?”

Thẩm Kinh Lan quay đầu nhìn anh.

Bùi Độ Xuyên đứng trong mưa, áo gió ướt sũng, dán vào người, nước mưa nhỏ từng giọt từ những lọn tóc. Mặt anh vẫn là khuôn mặt đó: mắt dài hẹp, lông mi rũ xuống, dưới mắt phải một nốt ruồi rất nhạt.

Nhưng có chỗ nào đó không đúng.

Thẩm Kinh Lan nhìn anh rất lâu, lâu đến mức chính mình cũng thấy sợ.

“Anh có ý gì?”

“Không có gì.” Bùi Độ Xuyên cười, chỉ nhếch một bên mép. “Hỏi chơi.”

“Bùi Độ Xuyên.”

“Ừ.”

“Đương nhiên tôi nhớ anh là ai.” Thẩm Kinh Lan nói. “Sao anh lại hỏi vậy?”

Bùi Độ Xuyên cúi đầu, móc từ túi trong ra chiếc đồng hồ quả quýt bằng đồng thau, mở nắp.

Trên mặt đồng hồ, kim đồng hồ dừng ở bốn phẩy tám hai.

Kim giây đang chạy.

“Vì…” Anh khẽ nói. “Sáng nay trên thuyền, người lính đó hỏi tôi, người bên cạnh anh là ai.”

Tim Thẩm Kinh Lan hụt một nhịp.

“Lúc đó tôi có trả lời không?”

“Không. Khi ấy anh vẫn còn hôn mê.”

“Rồi sao?”

“Rồi tôi hỏi người lính đó,” Bùi Độ Xuyên ngẩng mắt, “lần đầu anh gặp tôi là khi nào.”

“Anh ta nói gì?”

“Anh ta nói,” giọng Bùi Độ Xuyên rất phẳng, “anh ta không nhớ đã gặp tôi. Anh ta chỉ thấy tôi quen mắt, nhưng không thể nhớ đã gặp ở đâu.”

Mưa rơi trên mặt đồng hồ, đọng thành những giọt nước rất nhỏ.

“Còn nữa,” Bùi Độ Xuyên nói, “hôm qua trên sân thượng, Ôn Như Ký gọi tên tôi, gọi ba lần. Sau đó cô ấy nói với tôi, cô ấy tưởng đang gọi người khác.”

“Bùi Độ Xuyên —”

“Bức tường trong đường hầm.” Bùi Độ Xuyên đóng nắp đồng hồ. “Cái tên ở lần thứ tám, cái tên khắc sâu nhất. Anh nhớ nó nứt rồi không?”

“Nhớ.”

“Trong vết nứt rỉ ra nước.” Bùi Độ Xuyên nói. “Hôm nay tôi quay lại nhìn. Vết nứt vẫn còn, nhưng cái tên nhạt đi một chút.”

“Không thể nào.”

“Có thể.” Bùi Độ Xuyên nói. “Thứ thủy triều ấy không nuốt chửng ký ức, mà là chính sự tồn tại của một người. Nó không ăn một lần hết, nó ăn từng miếng một. Bắt đầu từ chỗ xa nhất — người lạ, ghi chép, ảnh, chữ ký. Rồi ăn gần hơn — bạn bè, đồng nghiệp, những việc đã cùng làm. Cuối cùng mới ăn đến người gần nhất.”

Anh ngẩng mắt, nhìn Thẩm Kinh Lan.

“Tôi chính là phần mà anh đã đem ra đ/á/n/h đổi. Giờ thì món nợ ấy đến hạn phải trả rồi.”

Tiếng mưa trên phố đột nhiên rất xa.

Thẩm Kinh Lan đưa tay nắm cổ tay anh, đẩy ống tay áo lên.

Chuỗi hình xăm vẫn còn: 13.7, 9.2, 4.82…

Nhưng con số cuối cùng, cái dấu móc khuyết chỉ khắc một nửa — không thấy nữa.

Da phẳng lì, không có gì, như chưa từng khắc.

“Khi nào?” Giọng Thẩm Kinh Lan run.

“Không biết.” Bùi Độ Xuyên buông ống tay áo xuống. “Có thể trong nước, có thể sau khi lên bờ. Tôi không đau, không cảm thấy gì. Giống như… có ai đó xóa đi một chữ trên người anh. Đến cả việc chữ ấy từng là gì, anh cũng không nhớ nổi.”

“Chúng ta sẽ nghĩ cách.”

“Không có cách.”

“Có.” Thẩm Kinh Lan nắm cổ tay anh không buông. “Trong ghi chép của ông nội tôi có viết — ‘chỉ lưu một bóng, một chấp niệm, một bên người’. Anh chính là cái bóng đó. Bóng sẽ không biến mất, chỉ cần còn người nhớ.”

“Chỉ mình tôi nhớ bản thân thì có ích gì.”

“Tôi nhớ anh.”

“Giờ anh nhớ.” Bùi Độ Xuyên nói. “Năm sau thì sao? Vòng sau thì sao? Nếu anh cũng quên thì sao?”

“Tôi sẽ không quên.”

“Tám lần trước anh đều quên.”

Thẩm Kinh Lan không nói được.

Bùi Độ Xuyên nhẹ nhàng rút tay ra, nhét lại vào túi.

“Không sao.” Anh nói. “Tôi tính rồi.”

“Tính gì?”

“Tôi đã tính rồi. Nếu sau mỗi lần luân hồi, phần tồn tại bị nuốt mất lại nhiều thêm một chút, thì có lẽ tôi chỉ còn trụ được ba lần nữa.” Giọng Bùi Độ Xuyên bình tĩnh như đang báo mực nước. “Ba lần nữa, tôi hoàn toàn biến mất. Không tên, không mặt, không hình xăm, không đồng hồ. Ngay cả chữ trên tường cũng sẽ biến mất.”

“Vậy anh tại sao —”

“Tại sao vẫn chấp nhận bước vào vòng lặp này ư?” Bùi Độ Xuyên cười. “Vì ba lần là đủ. Trong ba lần, chỉ cần một lần anh giải được bài toán này, tôi không cần lần thứ tư.”

Anh quay người, đi lên dốc.

“Đi thôi. Trời sắp tối, trên hải đăng còn một trăm hai mươi người đợi ăn.”

Thẩm Kinh Lan đứng nguyên chỗ, nhìn bóng lưng anh.

Mưa rơi trên chiếc áo gió đen đó, rơi trên dáng lưng lúc nào cũng có vẻ thờ ơ, t/ùy ý, vậy mà từng bước chân vẫn vững vàng giẫm lên mặt đất.

Rồi anh làm một việc chính mình cũng không ngờ.

Anh móc từ túi ra cây b/út — cây b/út viết danh sách ngày thứ chín mươi — rồi nắm cánh tay Bùi Độ Xuyên, đẩy ống tay áo lên lần nữa, để lộ mảng da trống.

“Anh làm gì?”

“Bù lại.”

Thẩm Kinh Lan cúi đầu, dùng ngòi b/út viết lên mảng da đó.

Từng nét, từng nét, viết rất chậm, rất mạnh. Mực thấm vào lỗ chân lông, chữ đen nổi lên:

Bùi Độ Xuyên.

Dưới là ngày tháng: Ngày thứ chín mươi.

Dưới nữa, anh viết một dòng chữ nhỏ: Thẩm Kinh Lan nhớ.

Viết xong, anh thẳng người, đậy nắp b/út.

“Làm vậy cũng vô ích thôi.” Bùi Độ Xuyên nói. “Gặp nước là mực trôi hết.”

“Tôi biết.” Thẩm Kinh Lan nói. “Nên mỗi tối tôi sẽ viết lại một lần. Nếu anh quên, tôi sẽ nhắc. Nếu chữ trên tường biến mất, tôi sẽ khắc lại. Tên anh biến mất khỏi thế giới, tôi viết mỗi ngày một lần, viết đến khi giải được bài toán này.”

Anh ngẩng đầu.

“Anh không phải cái giá phải trả.” Anh nói. “Anh là nhân chứng.”

Bùi Độ Xuyên nhìn anh, rất lâu không nói.

Mưa rơi giữa hai người.

Rồi anh đột nhiên cười một cái, cười rất nhẹ, anh khẽ cụp mắt, hàng mi che khuất chút ánh sáng còn đọng nơi đáy mắt.

“Thẩm Kinh Lan.”

“Ừ.”

“Anh viết lệch rồi.”

“Im đi.”

Hải đăng sáng lên lúc bảy giờ tối.

Máy phát điện ầm ầm kêu, bóng đèn sáng từng cái một, soi ra một mảng ánh sáng vàng ấm trên đỉnh vách đá. Phía dưới chìm trong bóng tối. Cả vùng vịnh tối đen như mực, chỉ lác đác vài điểm lửa — đó là những đốm lửa do người dân mất điện đốt lên để sưởi ấm.

Ôn Như Ký đứng ở cửa, nhìn thấy họ, xông tới túm cổ áo Thẩm Kinh Lan.

“Anh đi đâu vậy!” Cô hét. “Cả ngày! Điện thoại không gọi được! Người không tìm thấy! Anh tưởng —”

Giọng cô đứt.

Cô nhìn Thẩm Kinh Lan, ánh mắt đột nhiên có chút mơ hồ, tay buông ra.

“Tôi…” Cô nhíu mày. “Tôi định nói gì ấy nhỉ.”

“Không sao.” Thẩm Kinh Lan nói.

“Không phải, tôi rõ ràng có một việc rất quan trọng muốn nói với anh.” Ôn Như Ký xoa huyệt thái dương. “Vừa nãy còn nhớ, sao giờ không nhớ nổi…”

“Cô nói tối nay phải chia gạo.” Bùi Độ Xuyên ở bên cạnh nói. “Cô nói gạo không đủ, phải tính lại khẩu phần.”

“Đúng!” Ôn Như Ký vỗ tay. “Gạo không đủ! Mẹ kiếp, sao cái này tôi cũng quên được —”

Cô quay người chạy vào, vừa chạy vừa hét: “Sở Chiêu Dã! Anh qua đây! Phải tính lại khẩu phần gạo!”

Thẩm Kinh Lan đứng ở cửa, không động.

“Bắt đầu rồi.” Bùi Độ Xuyên nói sau lưng anh.

“Ừ.”

“Không chỉ tôi.” Bùi Độ Xuyên nói. “Là tất cả những gì có liên quan đến tôi. Ký ức, đối thoại, lời hứa.