Ta vẫn ngồi dưới đèn sửa bản vẽ. Hắn từ phía sau cúi người xuống, một tay chống lên mép bàn. Hơi thở lướt qua bên tai ta, ánh mắt dừng trên bản vẽ trải rộng trước mặt.

“Trước đây nàng từng vẽ một bộ bản vẽ Lầu Ngắm Hồ phải không?”

“Đưa bộ ấy cho Thanh Y đi. Bên nàng ấy đang cần dùng.”

Tay cầm b/út của ta khựng lại.

“Bộ đó không được.”

Hắn hơi bất ngờ.

“Tại sao?”

“Ta muốn giữ lại cho mình.”

Bộ bản vẽ ấy, ta đã dành trọn hai năm để hoàn thành.

Kết cấu mộng ngàm, cách lấy sáng, hệ thống thoát nước, thậm chí cả khoảng cách cần chừa ở nơi mái hiên hứng mưa, ta đều sửa đi sửa lại không biết bao nhiêu lần.

Ta từng nghĩ, đợi đến khi ta và Bùi Hành Chu già đi, chúng ta sẽ xây một tòa nhà nhỏ ở ngoại thành.

Sau sân trồng mai.

Bên mặt nước dựng lầu.

Mùa đông nấu rượu, mùa hạ nghe mưa.

Bùi Hành Chu cũng biết rõ điều ấy.

Thậm chí, hắn còn từng đặt tên cho tòa lầu.

Chiếu Thủy.

Hắn nói: “Minh Chiêu soi bóng nước, nước cũng soi bóng Minh Chiêu.”

Thế nhưng đêm ấy, hắn chỉ nhíu mày.

“Chẳng qua chỉ là một bộ bản vẽ thôi mà.”

“Nếu nàng thật sự thích, sau này vẽ lại một bộ khác là được.”

Ta ngẩng đầu nhìn hắn.

“Tại sao nhất định phải lấy thứ của ta?”

Hắn im lặng trong chốc lát.

“Thanh Y thích.”

Bốn chữ ấy thốt ra từ miệng hắn tự nhiên đến lạ, cứ như thể đó là chuyện đương nhiên.

Tựa hồ chỉ cần Thôi Thanh Y nói một câu “thích”, thì cũng đủ để lấn át tâm huyết suốt hai năm trời của ta.

Cuối cùng, ta vẫn đưa bản vẽ cho hắn.

Một tháng sau, Chiếu Thủy Các trong Thôi phủ hoàn thành.

Bùi Hành Chu đến dự tiệc mừng khánh thành. Khi trở về, hắn lại làm như chưa từng xảy ra chuyện gì, còn mang cho ta một chiếc trâm vàng.

Đầu trâm chạm hình một con chim yến nhỏ đang dang cánh.

Hắn đứng sau lưng ta, tự tay cài trâm lên tóc ta, rồi nhìn ta qua gương đồng, mỉm cười hỏi:

“Đẹp không?”

Ta nhìn con chim yến đơn độc trong gương, chợt nhớ đến góc mái hiên trong bản vẽ gốc. Nơi đó vốn nên đặt một đôi chim yến bằng đồng.

Một con là ta.

Một con là hắn.

Giờ đây, tòa lầu đã thuộc về người khác.

Còn hắn thì vẫn nhớ để lại cho ta một con chim yến.

…

Sau đó, ta muốn sửa cầu Tế Dân ở phía bắc thành.

Cây cầu ấy đã lâu không được tu sửa, những cọc gỗ bên dưới từ lâu đã mục ruỗng, vậy mà mỗi ngày vẫn có hàng trăm bá tánh qua lại.

Ta hỏi mượn Bùi Hành Chu số gỗ trong kho Hầu phủ.

Hắn lật sổ sách, ngón tay dừng ở trang cuối, thản nhiên nói năm nay chi tiêu trong phủ hơi eo hẹp.

“Để sang năm đi.”

“Chỉ là một cây cầu nhỏ, chậm vài tháng cũng chẳng xảy ra chuyện gì lớn.”

Ta không tranh luận với hắn, tự mình đi tìm thương đội mua gỗ.

Nửa tháng sau, khi đang kiểm tra gỗ ở ngoài thành, ta bắt gặp đoàn xe của Hầu phủ.

Mười mấy xe gỗ nam mộc vân vàng thượng hạng nối thành một hàng dài. Bánh xe lăn trên đường quan đạo, thẳng hướng biệt viện Thôi gia.

Ta đứng bên đường, bụi đất cuốn lên làm bẩn cả một mảng váy.

Tối hôm ấy, Bùi Hành Chu trở về, ta hỏi hắn chuyện số gỗ kia.

Hắn thậm chí chẳng buồn giấu giếm.

“Biệt viện của Thanh Y bị dột.”

“Bên đó toàn là nữ quyến, không thể cứ để kéo dài mãi.”

Ta nhìn hắn.

“Cầu Tế Dân mỗi ngày có hàng trăm người qua lại.”

Sắc mặt hắn lập tức thay đổi. Vẻ bình thản ban nãy biến mất, chân mày sa xuống, giọng nói cũng lạnh đi.

“Cố Minh Chiêu, nàng nhất định phải đem mọi chuyện ra so đo với nàng ấy sao?”

“Ta không có.”

“Vậy vẻ mặt này của nàng là có ý gì?”

Hắn gạt chiếc tách trà trên bàn sang một bên. Động tác không mạnh, nhưng mặt nước vẫn gợn lên một vòng sóng.

“Minh Chiêu, ta tự hỏi chưa từng bạc đãi nàng.”

“Nàng có Hầu phủ, có xưởng mộc của riêng mình. Nàng muốn làm gì, ta cũng chưa từng thật sự ngăn cấm đến cùng.”

“Nàng ấy chỉ là một góa phụ mới trở về, chẳng qua dùng mấy xe gỗ mà thôi.”

“Đến chuyện này, nàng cũng phải tính toán chi li với nàng ấy sao?”

Ta nhìn hắn thật lâu, cuối cùng không nói thêm lời nào.

Ngày hôm sau, ta bán đi chiếc vòng ngọc bích duy nhất mà mẫu thân để lại.

Đến ngày cầu Tế Dân hoàn thành, bá tánh sống quanh đó cùng nhau tặng ta một bức hoành phi.

An Hành Bách Niên.

Ta cho người treo nó ở vị trí nổi bật nhất trong xưởng mộc.

Bùi Hành Chu chưa từng nhìn thấy bức hoành phi ấy.

Cũng từ dạo đó, ta mới chợt nhận ra hắn đã rất lâu rồi không đặt chân đến xưởng mộc của ta.

…

Chuyện Thôi Tông xảy ra vào mùa xuân năm thứ hai.

Công bộ đang trùng tu Vọng Giang Đài ở Đông Thành.

Vọng Giang Đài nằm sát sông, nền đất ẩm mềm, yêu cầu đối với chất lượng gỗ vô cùng nghiêm ngặt.

Ta đến kiểm tra một lần, chỉ mới gõ vào hai cây cột đã cảm thấy có điều bất thường.

Bên ngoài được phủ sơn dầu đồng, nhưng bên trong đã bị sâu mọt đục khoét.

Ta lập tức bảo người bổ gỗ ra.

Quả nhiên, lõi gỗ đã đen sì.

Người phụ trách thu mua vật liệu chính là Thôi Tông.

Ta mang khúc gỗ làm mẫu thức trắng đêm trở về Hầu phủ.

Bùi Hành Chu vừa từ Thôi gia trở về, trên người vẫn còn vương mùi rượu và hơi lạnh của gió đêm.

Vừa nhìn thấy khúc gỗ bị bổ đôi trên bàn, vẻ lơ đãng trên mặt hắn dần biến mất.

“Chuyện này là thế nào?”

“Vọng Giang Đài phải lập tức dừng thi công.”

“Lô gỗ này không thể sử dụng.”