Ta đến Lâm Châu.
Tần bá, sư huynh của phụ thân ta, vừa gặp đã nhìn ta từ đầu đến chân một lượt, sau đó mắng cho một trận không ngẩng đầu lên nổi.
“Ngay từ đầu đã không nên gả!”
“Một gia đình như Bùi gia, há phải nơi ngươi có thể dễ dàng sống yên ổn?”
Ta cúi đầu nghe mắng.
Mắng đến cuối cùng, chính ông lại đỏ hoe vành mắt, quay lưng sai người dọn phòng cho ta.
Lâm Châu năm nào cũng chịu nạn lũ lụt.
Triều đình cấp ngân quỹ để đắp một đoạn đê dài. Công trình mới thi công được một nửa đã phát sinh vấn đề.
Tần bá dẫn ta đến kiểm tra.
Ta men theo đê đi suốt hai dặm, đế giày dính đầy bùn đất, cuối cùng phát hiện tổng cộng bảy chỗ hiểm yếu.
Ngày thứ ba, ta vẽ lại bản vẽ.
Một tháng sau, công trình cải tạo chính thức khởi công.
Ban đầu, dĩ nhiên có người không phục.
Họ nói ta là một người phụ nữ bị chồng ruồng bỏ.
Cũng nói ta chỉ là phận nữ nhi.
Ta chẳng buồn tranh cãi với họ.
Ai cho rằng bản vẽ của ta sai, cứ cầm thước và bàn tính ra, tự mình tính toán.
Nếu tính thắng ta, ta sẽ nghe theo người ấy.
Nếu tính không thắng, vậy thì cứ làm theo bản vẽ của ta.
Nửa năm sau, trận mưa lớn đầu tiên trút xuống.
Đê Lâm Châu vẫn vững vàng, không hề vỡ.
Đêm ấy, đèn đuốc được thắp sáng dọc khắp thân đê.
Bá tánh đốt pháo mừng suốt nửa đêm.
Ta ngồi một mình trên bậc đá, ôm vò rượu trong lòng, lắng nghe tiếng pháo từ xa vọng lại từng hồi.
Uống được nửa vò, ta chợt nhớ đến Bùi Hành Chu.
Nhớ đến lần đầu tiên hắn đứng bên dòng nước bùn, gọi ta một tiếng “Cố sư phụ”.
Nước mắt cứ thế lặng lẽ rơi xuống.
Thanh Ngô hoảng hốt chạy đến lau nước mắt cho ta.
Ta lại tự bật cười trước, giơ tay lau khô mặt.
“Không sao.”
“Chỉ là đột nhiên cảm thấy, hình như cuối cùng ta cũng tìm lại được chính mình rồi.”
…
Năm thứ hai, ta cùng Tần bá mở một xưởng mộc chuyên xây dựng công trình.
Ta đặt tên xưởng là Minh Lương.
Ban đầu, trong xưởng chỉ có bảy người. Sau đó tăng lên hơn hai mươi người.
Về sau nữa, bắt đầu có những người phụ nữ tìm đến Minh Lương, rụt rè hỏi xem mình có thể học nghề hay không.
Có góa phụ của thợ mộc.
Có con gái của thợ hồ.
Cũng có những cô nương mà gia đình không đủ sức nuôi nấng, nhưng bản thân lại không muốn sớm lấy chồng.
Trước tiên, họ luôn hỏi cùng một câu:
“Phụ nữ cũng có thể làm nghề này sao?”
Ta đáp:
“Gỗ đâu có phân biệt nam nữ.”
Vừa nói xong, chính ta cũng thoáng ngẩn người.
Nhiều năm trước, Bùi Hành Chu cũng từng nói những lời tương tự.
Ta cứ tưởng khi nhớ đến hắn, lòng mình sẽ lại đau đớn. Thế nhưng khoảnh khắc ấy, ta chỉ cúi đầu, tiếp tục sửa bản vẽ.
Mùa xuân năm thứ ba, triều đình trùng tu Cửu Khúc Yển thuộc tuyến vận hà Giang Nam.
Minh Lương được giao phụ trách một đoạn công trình.
Ngày văn thư chính thức được gửi đến xưởng, ta ôm nó, nhìn thật lâu.
Trên đó không có ba chữ “Bùi phu nhân”.
Chỉ có ba chữ Cố Minh Chiêu.
Tối hôm ấy, hiếm khi ta uống nhiều rượu.
Sáng hôm sau tỉnh dậy, đầu đau như b/úa bổ.
Thanh Ngô cười trêu ta:
“Cô nương, tối qua người ôm văn thư không chịu buông, cứ nói lão gia mà nhìn thấy, nhất định sẽ vui mừng lắm.”
Ta đưa tay xoa thái dương.
“Đương nhiên người sẽ vui mừng.”
Cũng chính trong năm ấy, Bùi Hành Chu được điều đến Giang Nam, giữ chức Tuần Hà Phó sứ.
…
Ta gặp lại Bùi Hành Chu bên bờ Cửu Khúc Yển.
Ba năm không gặp, hắn đã gầy đi rất nhiều.
Dung mạo vẫn tuấn tú như xưa, chỉ là vẻ hăng hái của thời thiếu niên đã phai nhạt, nơi đuôi mắt thêm vài phần trầm lắng do năm tháng mài giũa.
Bộ quan phục tứ phẩm trên người hắn vẫn chỉnh tề, bờ vai cũng vẫn rộng lớn như trước.
Thế nhưng khi nhìn thấy ta, hắn lại như bị đóng đinh tại chỗ.
Cách một đoạn đê, hắn nhìn ta thật lâu, rồi mới khàn giọng gọi:
“Minh Chiêu.”
Ta vẫn cầm thước đo mực nước trong tay, chỉ khẽ gật đầu với hắn.
“Bùi đại nhân.”
Ba chữ ấy vừa thốt ra, ánh sáng trong mắt hắn lập tức tối đi.
Xung quanh đều là người của Công bộ.
Hắn không nói thêm lời nào.
Suốt một tháng sau đó, chúng ta gần như ngày nào cũng gặp nhau.
Trong công việc, Bùi Hành Chu hầu như chẳng có gì để chê trách.
Thậm chí, hắn còn cẩn trọng hơn cả ba năm trước. Mỗi lô gỗ, mỗi công đoạn thi công, hắn đều đích thân kiểm tra lại một lần.
Có lần, một đoạn đê bị sạt lở. Ta dẫn người thức trắng đêm xuống gia cố.
Bận rộn đến nửa đêm, khi trèo lên bờ, vạt áo và đế giày của ta đều lấm lem bùn đất.
Bùi Hành Chu đứng chờ dưới ánh đèn l/ồ/ng, bóng dáng cao lớn bị đêm tối kéo thành một vệt dài.
Khi ta bước đến gần, ánh mắt hắn dừng trên vết trầy phía sau mu bàn tay ta. Yết hầu hắn khẽ chuyển động.
“Những năm qua, nàng vẫn luôn như vậy sao?”
“Như thế nào?”
“Tự mình xuống nước, tự mình đo đạc.”
Hắn ngừng lại, ánh mắt lại rơi xuống đôi giày dính đầy bùn của ta.
“Còn tự mình trèo lên giàn giáo nữa?”
Ta nhận chiếc khăn Thanh Ngô đưa tới, lau sạch bùn trên tay.
“Ta đã làm những việc này từ năm mười bảy tuổi.”
Bùi Hành Chu không nói gì. Ánh đèn soi rõ gương mặt gầy gò của hắn. Sắc tái nhợt ấy, dù muốn che giấu cũng không thể che được.
Một lúc lâu sau, hắn mới khẽ nói:
“Thì ra ta đã quên mất.”
“Phải.”
Ta đi ngang qua hắn.
“Chàng đã quên từ rất lâu rồi.”
…
Từ đó về sau, Bùi Hành Chu thường xuyên xuất hiện quanh công trường của Minh Lương.
Ban đầu, hắn sai người mang t/h/u/ố/c, mang cơm đến. Những hôm trời mưa, hắn còn bảo người cho xe ngựa dừng trước cửa xưởng.
Ta không nhận bất cứ thứ gì, tất cả đều sai người trả lại nguyên vẹn.
Về sau, hắn không gửi đồ đến nữa.
Chỉ lặng lẽ đứng từ xa nhìn công trường. Có khi đứng một lúc, có khi đứng suốt nửa ngày.
Thanh Ngô nhìn mãi không vừa mắt.
“Bây giờ mới biết hối hận thì có ích gì chứ?”
Ta đang gọt thước trúc, đầu cũng chẳng buồn ngẩng lên.
“Kệ hắn.”