“Con đường là ta khai, tiệm là của ta, người làm cũng là ta chọn.”

“Ba thành lợi nhuận.” — ta nói.

“Tối qua ta đi mặt dày mời đại phu, còn canh chừng ngươi suốt đêm.”

“Bốn thành!”

“Ngươi chưa làm hàng khô bao giờ, lại không rành giao thương…”

“Năm thành!”

“…Thành giao!”

Lão già gian xảo lập tức nhấc chân rời đi. Ta gọi lại:

“Khoan đã, Anh thúc, ta cho ông sáu thành!”

Ta lồm cồm bò dậy, quỳ thẳng xuống, khiến ông giật mình lui lại, suýt vấp cửa.

Ta nghiêm túc:

“Ông phải dạy ta quy củ buôn bán, truyền ta bí quyết. Không dạy không được. Một ngày làm thầy, cả đời làm cha. Ông dạy ta, ta nuôi ông đến trọn đời.”

Mặt ông biến sắc, thu tay lại, xoay xoay bình trà rỗng, đi đến ngồi xuống mép giường, nhìn ta chằm chằm:

“Con nha đầu c.h.ế.t tiệt kia, còn quỳ đó làm gì? Mau đi nấu nước, rót cho ta ly trà nhận con gái đi!”

Chờ đến khi ta gọi ông là “nghĩa phụ”, dập đầu kính trà, ông uống xong một hơi, Triệu Nhị Thiết đứng ngẩn ra bên cạnh:

“Anh thúc, ông nhận Đông Vũ, còn dạy buôn bán, thì sáu thành lời này chẳng phải trắng tay sao? Mai kia nàng ta dưỡng lão cho ông, tiền của ông cũng thành tiền nàng ta hết còn gì!”

“Này! Triệu Nhị Thiết! Vừa rồi sao không nhắc ta hả!”

33

Mùa đông năm nay không còn bi thương hoảng hốt như năm trước, cũng chẳng còn náo nhiệt như năm trước. Gió tuyết hoành hành vẫn giống hệt những năm đã qua. Việc buôn bán của tiệm cũng chỉ cầm cự đến cuối tháng mười, khách ra vào thưa dần, tiệm xem như đóng cửa nghỉ, chỉ ba ngày mở cửa một lần bán đậu phụ.

Ta ở trong hàng sơn vật của Anh thúc — hiện nay cũng là hàng sơn vật của ta — theo chân ông học nhìn bản đồ, nghe ông giảng giải phong tục nhân tình của mười tám tỉnh nội địa, học phân loại hàng hóa, tùy theo nơi chốn mà điều phối vào ra, học cách đặt nhãn bắt mắt cho món hàng, học cách quan sát nhu cầu của người khác.

Thiên tự văn ta đã học xong từ lâu. Anh thúc đưa cho ta vài quyển du ký và thương kinh, bảo rằng:

“Làm buôn bán, đọc sách nhiều là chuyện tốt, trong sách cái gì cũng có.”

Ta chưa thấy mình có thiên phú làm ăn gì rõ rệt, nhưng khi đọc đến du ký lại như đắm chìm vào từng câu từng chữ miêu tả non sông gấm vóc. Hóa ra ngoài đại giang đại hà còn có biển cả; hóa ra không phải núi nào cũng một đêm tiêu điều, mà có nơi xanh biếc bốn mùa; hóa ra ngư miền chi hương thật sự sung túc, trung nguyên quả thật hùng vĩ. Hóa ra thế giới bên ngoài rộng lớn đến vậy, mà nơi ta sống lại quá đỗi hẻo lánh.

Trước khi về làng ăn Tết, ta mang y phục, hài mới, bạc lẻ và thịt khô đến gửi cho lão gia. Nhân tiện mời Anh thúc về quê đón xuân, cũng tiện xin thêm mấy quyển sách; về quê rồi ta lại tìm A Miên mượn sách, thứ ta thích nhất vẫn là du ký và sử thư.

Dường như ta đã mở ra một cánh cửa kỳ diệu — du ký dẫn ta du ngoạn sơn hà, sử thư thay ta giải đáp nghi hoặc.

Cả mùa đông ta vùi đầu trong sách, như lạc vào một thế giới mới. Có vẻ như ta đã tìm được một thứ còn khiến ta vui hơn trồng trọt nấu cơm. Ta suốt ngày ru rú trong phòng, chẳng muốn bước ra ngoài.

Người nhà lo lắng, tổ mẫu và cô cô cứ viện đủ cớ ghé vào phòng ta dăm ba vòng; tổ phụ cũng thỉnh thoảng đến nhờ ta giúp tay; “Minh gia quân” mượn cớ đại phòng chật chội mà chạy sang phòng ta chơi, thực ra là để ở bên cạnh ta. Anh thúc cũng thường ghé tới, châm chọc vài câu rồi sai ta đi làm việc; còn phu nhân và ma ma thì lặng lẽ dán lại tờ giấy cửa sổ bên giường, thấy ta đêm chưa ngủ còn thay tim đèn thật dài...

Tất cả những điều ấy ta đều biết. Nhưng ta không muốn rời mắt khỏi sách. Bởi ta biết, xuân vừa tới, lại phải cuốn vào bộn bề cuộc sống.

Lần đầu tiên trong đời, ta chỉ muốn quan tâm đến bản thân mình, để cái "ta" trong lòng được phóng đại ra không chút gò bó.

Thôn làng vẫn yên lặng trong đông giá, chỉ đôi lúc vang lên tiếng cười nói của khách sang chơi. Phu nhân và ma ma đã quan sát thật lâu, nhận ra những người đàn bà lắm lời trong làng, chưa ai dám lấy chuyện thiếu gia nhà họ Ngô thoái hôn ra làm trò giễu cợt, lúc ấy mới an tâm phần nào.

Chẳng có mùa xuân nào là không đến. Mà mùa xuân năm nay đến một cách sớm sủa lạ lùng. Chậu hàn lan đã trổ thêm hai cành, ta nâng niu nhành hoa thơm ngát, cùng cả nhà chỉnh tề trở lại thành, mở cửa buôn bán.

Cây cối bên đường vẫn khẳng khiu chưa nảy lộc, nhưng gió đã ngưng, sẻ đầy cành.

Ngày tháng êm đềm trôi theo nếp cũ.

Ta theo Anh thúc lo việc hàng hóa, theo phu nhân học tính sổ quản lý; nghe tiểu thư đọc to những đoạn kinh sử thi thư nàng không hiểu; đôi khi gặp tiên sinh đến tiệm ăn cơm, họ cũng không chấp lễ mà giảng giải cho ta đôi câu.

Chờ trời tan băng, ta lại về quê lo xuân canh, thu rau xuân, thu xếp đoàn thương buôn từ phương Nam trở lại; ghé nhà Thu cô cô trong làng, báo cho nhà cô cô năm nay nên làm loại đồ từ vỏ cây bạch dương nào dễ bán hơn. Bảo cô cô đừng chỉ thu nhận trẻ trong làng mình, nếu làng bên có đứa trẻ ngoan, chịu học, cũng nên thu về dạy nghề — biết đâu lại có thêm một đứa như Thanh Thanh thì sao?

Mùa hạ ngắn ngủi sắp qua, trời trong khí sạch, ta cưỡi ngựa về làng.

Đúng rồi, ta cũng biết cưỡi ngựa rồi — là Anh thúc tìm phu nhân một viên võ tướng trong thành đến dạy ta, còn tặng ta một con ngựa nhỏ lông đỏ tía nhân dịp năm mới.

Sớm biết ông ấy thương yêu như vậy, khi ở kinh thành ta đã quỳ xuống gọi ông là “cha”.

Gió xuân thổi mơn man, tâm tình cũng thư sướng. Nghe nói mùa đông phương Nam năm rồi không có tuyết, tuy chưa biết hạt dẻ có được mùa hay không, nhưng dưa muối, rau khô chắc chắn sẽ bán được giá.

Vừa tính toán số bạc kiếm được đầu năm, ta vừa suy nghĩ phải xây một gian nhà làm học đường cho bọn trẻ trong làng. Trẻ con trong làng không nhiều, độ hơn hai mươi đứa, thay vì để chúng cả mùa đông chơi tới mức răng va vào nhau, chi bằng gom lại dạy đọc, học vài chữ cũng nên.

Vì ta biết rõ — chữ và sách, thực là những điều quý giá.

Mọi người đều bảo ta thay đổi rồi. Trong thành cũng có người truyền rằng chủ nhân Xuân Hàn Sơn Hành là một nữ lang lợi hại.

28 - Đông Vũ Hóa Xuân Hàn - Đọc truyện ngôn tình tổng tài bá đạo miễn phí | Lão Phật Gia