Ta đưa bánh cho cậu, lại bảo tì nữ rót một ly nước ấm: “Ăn từ từ thôi kẻo nghẹn. Chạy đến đầy mồ hôi thế này, uống nước xong, tẩu tẩu đưa đệ đi xem kiến chuyển nhà, có được không?”

Có lẽ giọng nói của ta mang một sức mạnh xoa dịu kỳ lạ. Bùi Giác nhận lấy bánh, ngoan ngoãn ăn rồi uống nước từ tay ta.

Ăn xong, quả nhiên cậu để mặc ta dắt bàn tay nhỏ bé, hai tẩu t.ử và tiểu thư cùng ngồi xổm xuống góc tường xem kiến, khiến hai bà v.ú đứng nhìn mà sững sờ.

Kể từ đó, Bùi Giác dường như đã nhận định viện của ta là “chốn cũ”, thường xuyên lẻn tới chơi. Ta cũng không thấy phiền, thỉnh thoảng kể cho cậu nghe vài câu chuyện thú vị, dạy cậu vài chữ đơn giản, hoặc dùng lá cây sỏi đá xếp thành hình thù trong viện.

Ta không bao giờ nuông chiều mù quáng. Lúc cần dạy quy tắc, ta ôn hòa mà kiên định, lúc cần chơi đùa, ta lại luôn nghĩ ra những ý tưởng mới mẻ.

Trẻ con vốn nhạy cảm, ai thật lòng đối tốt với mình, chúng đều hiểu rõ. Chỉ chưa đầy nửa tháng, Bùi Giác mở miệng là “tẩu tẩu ơi, tẩu tẩu à”, bám lấy ta rất c.h.ặ.t, ngay cả chỗ Hầu phu nhân cậu cũng ít đi hẳn.

Ban đầu, Hầu phu nhân hơi ngạc nhiên, bà cố ý “đi ngang qua” viện của ta vài lần. Thấy đứa cháu nhỏ không bị dạy hư mà trái lại còn có thể ngồi yên, đôi mắt sáng giống hệt phụ thân cậu cứ chớp chớp nghe ta giảng đạo lý, bà thấy cũng yên lòng.

Nhìn cách ta đối nhân xử thế ung dung, không kiêu ngạo cũng không siểm nịnh, bà nhận ra tình cảm ta dành cho Bùi Giác là chân thật, không thể làm giả.

Sự xa cách lạnh nhạt trong lòng bà đối với nàng dâu mới – người vốn được cưới về khi con trai bà đã có ý trung nhân – dần dần tan biến, thay vào đó là sự tò mò và tán thưởng.

Một lần nọ, chứng đau đầu kinh niên của Hầu phu nhân phát tác. Ta chủ động xin giúp, đem những sổ sách rắc rối từ trang trại gửi tới sắp xếp lại vô cùng rõ ràng, súc tích, khiến bà bớt đi nhiều gánh nặng.

Sau khi xong việc, ta không rời đi ngay mà ngồi bên cạnh giường, nhẹ nhàng xoa bóp huyệt thái dương cho bà. Thủ pháp của ta không hề xa lạ, cũng không quá mức lấy lòng, lực đạo vừa vặn khiến bà thư thái.

“Tay nghề của con cũng khá lắm.” Hầu phu nhân nhắm mắt, giọng điệu đã hòa hoãn hơn nhiều.

“Khi còn ở nhà... thỉnh thoảng con có xoa bóp cho mẫu thân.” Ta nhẹ giọng đáp.

Đó là sự thật. Ngày đó mẫu thân còn sống, ta còn nhỏ chẳng biết làm gì cho người vui, nên mới đặc biệt đi học thủ pháp này từ các bà v.ú.

Hầu phu nhân “ừ” một tiếng, bỗng nhiên nói: “Mấy ngày trước kho hàng mới đưa tới một xấp lụa nhuyễn yên la màu xanh thiên thủy, màu sắc thanh nhã hợp với tuổi trẻ các con, con đem đi cắt vài bộ y phục mùa hạ đi. Còn cả hộp trân châu Nam Dương kia nữa, tuy không lớn nhưng độ bóng rất tốt, con cũng giữ lấy mà làm trang sức.”

Đây rõ ràng là sự ban thưởng và công nhận vượt mức bình thường. Động tác của ta không dừng lại, giọng nói vẫn bình ổn: “Tạ mẫu thân hậu ái. Xấp lụa kia quả thực nhã nhặn, con rất thích. Còn trân châu... con còn trẻ, sợ không nén được vẻ quý khí ấy, mẫu thân cứ giữ lại thưởng thức hoặc ban cho người khác thì tốt hơn.”

Hầu phu nhân thầm gật đầu, sự hài lòng hiện rõ trong mắt: “Ta cho thì cứ nhận lấy. Con là một đứa trẻ hiểu chuyện. Hành nhi lấy được con là phúc phận của nó.”

Bà mở mắt nhìn ta, thở dài: “Cái tính cách kia của nó... sau này con hãy bao dung nhiều hơn, cũng hãy... điểm hóa cho nó một chút.”

Trong lời nói ấy, ta nghe ra cả ý vị giao phó và gửi gắm tâm tình. Ta hơi kinh ngạc, dừng động tác lại, cung kính đáp: “Mẫu thân nói nặng lời rồi. Phu quân đoan chính thận trọng, con còn nhiều điều phải học hỏi ở chàng lắm.”

Sự thay đổi trong căn nhà này, ngay cả một người vốn dĩ đóng cửa thanh tu như ta cũng cảm nhận rõ, huống chi là người nhạy cảm như Bùi Hành.

Trước đây, Bùi Giác thỉnh thoảng vẫn chạy tới quấy phá thư phòng của hắn, để rồi bị hắn nghiêm giọng trách mắng hoặc bị bà v.ú bế đi. Nhưng dạo gần đây, tiểu bá vương ấy ít sang chỗ hắn hẳn. Thỉnh thoảng có tới, trong tay thằng bé không phải cầm một chiếc lá cây kỳ lạ thì cũng là một tờ giấy vẽ loằng ngoằng, hào hứng khoe với đại ca rằng đó là “tẩu tẩu dạy”.

Ta không biết rằng, có một buổi chiều khi ta đang ung dung chống cằm trêu đùa “tiểu mập mạp” giữa sân nắng, Bùi Hành đã đứng lặng ngoài cổng viện từ lúc nào. Tiếng cười khanh khách của Giác nhi và sự tự tại của ta có lẽ đã khiến sợi dây đàn vốn luôn căng cứng trong lòng hắn khẽ rung lên một nhịp.

Chập tối hôm ấy, Bùi Hành về phòng sớm hơn thường lệ. Ta đang ngồi bên cửa sổ, tận dụng chút ánh sáng cuối ngày để đọc cuốn “Nam Hành Bút Ký”. Thấy hắn vào, ta chỉ ngước mắt gật đầu chào theo thói quen, rồi định tiếp tục chìm vào trang sách.

“Nàng đang xem gì vậy?”

Hắn bỗng nhiên chủ động mở lời, đi tới bàn rót một ly nước. Ta hơi ngạc nhiên, giơ bìa sách cho hắn xem: “Là một cuốn b.út ký về phong tục và địa lý, rảnh rỗi nên ta lật xem một chút.”

Bùi Hành liếc nhìn một cái, rồi nhận xét bằng giọng của người từng đi nhiều, biết rộng: “Tác giả này ta từng gặp qua vài lần. Những điều ông ta viết ra khá chi tiết, nhưng khi nói đến đời sống dân chúng và cách cai quản, suy nghĩ vẫn còn chưa cặn kẽ.”

Ta khép sách lại, nhìn về phía hắn. Bóng tối hoàng hôn phủ lên dáng hình thẳng tắp của hắn một tầng hào quang mờ ảo. Trong lòng ta bỗng nảy sinh một tia hiếu kỳ: Vị tiểu hầu gia đoan chính, một lòng hướng về “người trong mộng” này, rốt cuộc hằng ngày hắn suy nghĩ điều gì?

“Vậy theo ý kiến của phu quân, thế nào mới là đạo trị quốc?” ta hỏi.

Bùi Hành dường như không ngờ ta sẽ tiếp lời trực tiếp như vậy. Hắn trầm ngâm một lát rồi ngồi xuống chiếc ghế đối diện, thần sắc trở nên nghiêm túc đến lạ kỳ:

“Cốt lõi của đạo trị quốc là ở giáo hóa và chọn người hiền tài. Biên cảnh tranh chấp phần lớn do sự bế tắc và nghèo nàn. Nếu có thể khiến dân chúng biết lễ nghĩa, trẻ được dạy dỗ, tráng niên được trọng dụng... không vì xuất thân hay giới tính mà tự trói buộc mình, thì quốc lực tự khắc hưng thịnh.”

Khi nói những lời này, trong mắt hắn ánh lên một loại hào quang rạng rỡ mà ta chưa từng thấy – đó là hào quang của lý tưởng và niềm tin.

Ta hơi ngẩn người. Ta từng nghĩ hắn sẽ nói về kinh điển khô khan hay xu hướng triều đình, không ngờ hắn lại có những suy nghĩ khoáng đạt đến mức “táo bạo” như vậy. Không gò bó bởi giới tính? Ý tưởng này ở thời đại này thực sự quá kinh thế hãi tục.

Ta không nhịn được, khẽ hỏi: “Phu quân có chí hướng này, thật khiến người ta kính phục. Chỉ là... chuyện này có liên quan gì đến vị cô nương trong lòng chàng không?”

Ta thầm nghĩ, nữ t.ử có thể khiến một nhân vật như hắn rung động, hẳn cũng phải là một người vô cùng đặc biệt.

Nghe ta nhắc đến “người cũ”, mặt Bùi Hành lướt qua một tia ngượng ngùng, nhưng nhanh ch.óng bị sự kính trọng thuần túy thay thế:

“Uyển Thanh... Từ tiểu thư, nàng ấy là con gái Thái phó. Thái phó có ơn tri ngộ với ta. Từ tiểu thư thừa kế gia phong, thanh nhã biết lễ nghĩa, ta tất nhiên là kính trọng.”

Hắn dừng một chút, như đang chọn từ ngữ để diễn tả một chân lý:

“Trước đây gặp gỡ trong các buổi thi hội, ta thấy nàng ấy văn tài lỗi lạc, đối nhân xử thế chu toàn nên mới cảm thấy... nữ t.ử như vậy, mới chính là lương phối.”

Ta nhìn vẻ mặt “kính trọng” thản nhiên không chút tình ý của hắn, lại nhìn cái vẻ nghiêm túc như đang thảo luận học thuật khi nhắc đến hai chữ “lương phối”, trong chốc lát, ta suýt nữa thì không quản lý nổi cơ mặt của mình.

Ta nhanh ch.óng cúi đầu, mượn động tác sắp xếp lại trang sách để che giấu khóe môi đang khẽ co giật vì buồn cười.

Trời ạ, nhầm lẫn giữa ơn nghĩa và tình yêu? Đem sự ngưỡng mộ về một hình mẫu gia đình lý tưởng biến thành sự rung động nam nữ? Vị Bùi công t.ử này, trong chuyện tình ái e rằng trì độn đến mức có thể đem đi “khai khẩn đất hoang” được rồi!

Lúc ngẩng đầu lên, ta đã khôi phục vẻ bình tĩnh, mỉm cười nói: “Hóa ra là vậy. Từ tiểu thư quả thực có phong thái đại gia, không phải hạng phàm tục.”

Bùi Hành thấy ta tán đồng, trong lòng nảy sinh cảm giác thoải mái khó hiểu. Hắn lộ ra lúm đồng tiền nhẹ nơi khóe miệng: “Nàng có thể hiểu được là tốt rồi.”