Nhà chúng ta từ lúc đến kinh chỉ có chi mà chẳng có thu, trong khi giá cả đắt hơn châu thành rất nhiều.
Ta và mẹ chồng đúng là ngày nào cũng tính toán từng đồng, không dám tiêu thoải mái như trước.
Không ngờ Quý Tùng Trúc bận học suốt ngày vẫn âm thầm để ý hết.
Trở về, ta cùng mẹ chồng bàn bạc rồi quyết định tìm một nghề sinh nhai.
Trước kia ta từng lo phụ nữ trong nhà ra buôn bán sẽ khiến người khác coi thường Tùng Trúc.
Nhưng giờ nếu để chàng phải bớt thời gian đọc sách để viết thuê cho người ta, vừa phí công sức, vừa dễ bị lời ra tiếng vào hơn.
Tùng Trúc nghe xong đương nhiên không đồng ý.
Ta hỏi nhỏ: “Phu quân là sợ người ta bàn tán thiếp với mẹ ra ngoài buôn bán sao?”
Chàng lắc đầu: “Ta chỉ sợ hai người mệt.”
Mẹ chồng lập tức vỗ bàn: “Ta làm việc cả đời quen rồi.”
“Bắt ta ngồi yên trong nhà mới là hành hạ.”
Kinh thành có vô số cách kiếm sống, nhưng chúng ta không đủ vốn làm những nghề liên quan vàng bạc, đá quý hay tơ lụa.
Muốn bắt đầu từ nhỏ, phải tìm thứ ít vốn nhưng có điểm khác biệt.
Mẹ chồng nấu canh thịt dê cực ngon.
Mỗi lần đến Tết ở quê, nồi canh vừa sôi, mùi thơm có thể bay khắp đầu làng cuối xóm.
Ở kinh thành tuy hàng quán nhiều, quán chuyên canh thịt dê lại không quá phổ biến, mà nấu thật ngon càng hiếm.
Sau một tháng chuẩn bị, quán canh thịt dê nhỏ của chúng ta mở cửa.
Trong quán chỉ đặt được sáu bộ bàn ghế.
Những ngày đầu khách chẳng bao nhiêu.
Ta và mẹ chồng còn cố giấu chuyện buôn bán, sợ ảnh hưởng Quý Tùng Trúc.
Nào ngờ chính chàng lại đường đường chính chính dẫn đồng môn về ăn, còn chủ động giới thiệu ta và mẹ với mọi người.
Hôm ấy ta chẳng kịp trang điểm, bị khói bếp hun đến hai má đỏ ửng, trán đầy mồ hôi.
Nghĩ lại vẫn thấy mất mặt.
Thế mà Quý Tùng Trúc nhìn ta, trong mắt lại như có ánh sáng: “Thê t.ử ta theo ta qua bao lần thi cử, chưa từng sợ khó nhọc.”
“Có nàng bên cạnh là phúc lớn của đời ta.”
Mấy vị đồng môn liền thân thiết gọi ta tiếng “tẩu tẩu”, tiếng “đệ muội”, chẳng ai có vẻ khinh thường.
Từ đó ta mới nhận ra phần lớn người đọc sách vẫn rất biết phải trái.
Có lẽ nhờ đám học sinh truyền miệng, chuyện làm ăn dần tốt lên.
Đến giờ cơm thường chẳng còn bàn trống.
Có người mang sẵn hộp thức ăn tới mua về.
Cũng có người không chờ được chỗ, bưng bát mì chan canh ngồi xổm ngoài cửa ăn ngon lành.
Thỉnh thoảng còn gặp quý nhân hào phóng, ăn một bát canh rồi ném lại nguyên một lạng bạc, bảo khỏi trả tiền thừa.
Quả thật vừa đẹp người vừa rộng tay.
Hai tháng sau kiểm sổ, trừ hết tiền thịt, củi, gia vị và công, chúng ta vẫn lãi được năm lạng bạc.
Lúc ấy ta mới hiểu vì sao nhiều người từng sống ở kinh thành đều không muốn quay về quê.
Nơi này tiêu tiền nhanh, nhưng nếu biết làm ăn thì kiếm tiền cũng nhanh hơn.
Bụng ta ngày một lớn, mẹ chồng không cho đứng bếp nữa, chỉ để ta ngồi quầy thu tiền và ghi sổ.
Bà còn thuê thêm một tiểu tư chạy bàn.
Mấy năm theo Tùng Trúc học chữ không uổng công, một người trước đây chẳng biết nổi tên mình như ta, nay đã có thể xem sổ sách khá trôi chảy.
Năm ấy cả nhà đón Tết ngay tại kinh thành.
Pháo hoa nở trên trời từ chập tối đến khuya, tiếng pháo nhỏ ngoài phố rộn ràng không dứt, nồi lẩu trong nhà sôi ùng ục suốt bữa.
Dù xa quê, người thân yêu nhất đều ở cạnh bên, vậy là đủ thành một cái Tết đoàn viên.
Qua đầu xuân, ta đau bụng chuyển dạ suốt hai ngày hai đêm.
Cuối cùng, trưởng nữ của Quý Tùng Trúc cũng bình an chào đời.
Chàng thức trắng hai ngày, mắt đỏ ngầu, vừa thấy ta tỉnh đã nắm tay áp lên mặt: “Sau này chúng ta không sinh nữa.”
Ta yếu ớt hỏi: “Chàng không muốn có con trai sao?”
Quý Tùng Trúc lập tức lắc đầu: “Ta chỉ cần nàng bình an.”
“Hai ngày qua ta thật sự sợ đến mất hồn.”
Được phu quân như vậy, đời này ta còn mong cầu gì hơn.
Chúng ta đặt tên con bé là Phúc Nhi.
Phúc Nhi chập chững lớn lên, còn quán canh thịt dê cũng ngày một phát đạt.
Khi con bé tròn một tuổi, mẹ chồng đặt làm riêng cho nó một chiếc vòng trường mệnh, hết tám lạng bạc.
Số tiền ấy nếu đặt vào mấy năm trước, chúng ta ngay cả nghĩ cũng không dám nghĩ.
Có lần mẹ chồng lén tính sổ rồi nói với ta: “Không ngờ ở kinh thành một năm nhà ta có thể kiếm hơn trăm lạng.”
“Cho dù Tùng Trúc không thi đỗ nữa, ôm số bạc này về quê cũng đủ sống sung sướng cả đời.”
Bà vừa dứt lời đã tự vỗ miệng: “Phi phi, nói gì xui xẻo thế.”
“Con ta nhất định sẽ đỗ.”
Những ngày bình yên trôi qua rất nhanh, kỳ đại khảo ba năm một lần cuối cùng cũng tới.
Cử nhân ở kinh thành nhiều như cá dưới sông.
Lúc mới vào Quốc T.ử Giám, cái danh Giải Nguyên một châu của Quý Tùng Trúc còn khiến vài người chú ý.
Nhưng mấy năm qua chàng luôn giấu tài, nhìn bề ngoài chẳng có gì nổi bật.
Ta thỉnh thoảng cũng nghe người ta nói, đứng đầu ở quê chưa chắc đã là gì khi đến kinh thành, đầu gà vào đây cũng chỉ thành đuôi phượng.
Con cháu thế gia tại kinh đô từ nhỏ đã có danh sư chỉ dạy, được đọc sách quý, gặp người giỏi, điều kiện khác hẳn một cử t.ử hàn môn như Quý Tùng Trúc.
Muốn đỗ tiến sĩ đã là khó như vượt núi cao, còn muốn chen vào thứ hạng tốt lại càng khó hơn.
Mấy năm nay chàng vẫn dậy sớm ngủ muộn, chưa từng xao nhãng việc học.
Nhưng những học t.ử khác cũng đâu phải kẻ lười.
Hàng nghìn người cùng chen qua một chiếc cầu độc mộc, cuối cùng ai có thể bước sang bờ bên kia, ta thật sự không dám chắc.
Đêm trước ngày thi, chúng ta lên giường từ sớm.
Thấy ta cứ nhíu mày, Tùng Trúc còn ngược lại an ủi: “Làm hết sức mình, còn lại nghe theo thiên mệnh.”
“Lo cũng chẳng làm bài thi dễ hơn, ngủ sớm đi.”
Ta chống người dậy, hôn chàng hết lần này đến lần khác, nhưng trong đầu vẫn hoàn toàn yên tĩnh.
Sáng hôm sau, trời còn chưa sáng rõ mà trước trường thi đã đông nghịt người.
Ta rất muốn hôn chàng thêm một lần để đề phòng, lại nghĩ đây là kinh thành, đồng môn xung quanh đều nhìn thấy, cuối cùng do dự không dám.
Không ngờ Quý Tùng Trúc lại đưa tay đỡ sau gáy ta.
Chàng cười rạng rỡ rồi chủ động cúi xuống hôn.
Ta kinh ngạc đến tròn mắt: “Đây là kinh đô đấy.”
Chàng xoa nhẹ đầu ta: “Nàng là thê t.ử chính thất của ta.”