Bà kinh ngạc ngẩng đầu.
Ta nói: “Người đâu có nợ ông ấy một câu trả lời ngay lập tức.”
“Nhưng ông ấy đã đợi suốt bao nhiêu năm.”
“Những năm tháng ấy đáng được trân trọng, nhưng cuộc đời sau này của người cũng đáng được cân nhắc thận trọng. Huống hồ Nguyễn Dật Hưng của hiện tại rốt cuộc là người thế nào, người vẫn cần tìm hiểu lại.”
Lục Trường Thiên ngồi bên cạnh gật đầu: “Trước khi thành thân, Thu Thủy đã điều tra con suốt nửa năm. Mẫu thân cũng nên dành thêm chút thời gian.”
Mẹ chồng nhìn hắn, cuối cùng bật cười.
“Thu Thủy từng điều tra con sao?”
Lục Trường Thiên nhăn nhó đáp: “Ngay cả chuyện hồi nhỏ con ngã xuống ao bùn, nàng ấy cũng điều tra ra.”
Thế là mẹ chồng thật sự bắt đầu tìm hiểu lại Nguyễn Dật Hưng.
Bà không sai người âm thầm theo dõi ông ấy, mà hỏi thăm những cố hữu hai bên cùng quen biết, cũng đích thân quan sát cách ông đối đãi với đồng liêu, thân quyến và hạ nhân; xem khi gặp ý kiến bất đồng, ông có chịu lắng nghe người khác nói hết hay chỉ chăm chăm áp đảo đối phương.
Có một lần, hai người tranh luận về việc nữ học nên dạy những gì.
Nguyễn Dật Hưng cho rằng trước tiên chỉ cần dạy đọc viết, còn phép tính có thể học sau. Nhưng mẹ chồng lại nói, rất nhiều cô nương cho dù biết chữ cũng chưa chắc có cơ hội lập tức đọc những bài văn dài; nếu biết tính toán, ngay trong ngày họ đã có thể tự kiểm tra tiền công và tiền hàng của mình.
Ban đầu, Nguyễn Dật Hưng không tán thành.
Sau khi trở về, ông xem qua sổ sách của mấy phường thêu thùa và phường chép sách, đến lần gặp mặt thứ hai liền mang theo một bản chương trình học đã được soạn lại.
Ông trải giấy lên bàn: “Nàng nói đúng. Là ta chỉ nghĩ đến tương lai mà quên mất trước mắt họ cần dùng đến những gì.”
Khi mẹ chồng trở về, bà kể nguyên văn câu nói ấy cho ta nghe.
Bà cất bản chương trình học mới vào ngăn kéo, lúc xoay chìa khóa khóa lại, khóe môi vẫn luôn thấp thoáng ý cười.
12
Thế nhưng tộc nhân Hầu phủ lại không chịu dễ dàng buông tha.
Chẳng biết ai đã truyền tin ra ngoài, mấy vị tộc lão cùng nhau đến tận cửa, nói rằng góa phụ Hầu môn tái giá là chuyện bại hoại thuần phong mỹ tục, huống hồ nhi t/ử đã kế thừa tước vị, Từ Dao Khâm càng phải biết giữ gìn thể diện cho Hầu phủ.
Mẹ chồng ngồi trong chính đường, đôi tay giấu trong tay áo khẽ run rẩy.
Ta biết bà đang sợ hãi.
Những quy củ ấy đã theo bà suốt nửa đời người, tựa như một bộ y phục cũ đã mặc thành quen. Dẫu bó c/h/ặ/t đến mức khiến người ta không thở nổi, nhưng khi thật sự muốn cởi bỏ, trước tiên vẫn sẽ cảm thấy lạnh lẽo.
Lục Trường Thiên đặt những điều luật về hôn nhân của triều đại này lên bàn.
“Mẫu thân đã mãn tang. Nếu người muốn tái giá, luật pháp không hề ngăn cấm. Tước vị của ta do triều đình sắc phong cho kế thừa, cũng sẽ không thay đổi vì mẫu thân tái giá.”
Mấy vị tộc lão ngay cả nhìn cũng chẳng thèm nhìn.
“Luật pháp là một chuyện, thể diện tổ tông lại là chuyện khác.”
Ta hỏi: “Thể diện của các vị còn muốn mẫu thân phải dùng thêm bao nhiêu năm cuộc đời để đ/á/n/h đổi nữa?”
Một vị tộc lão sa sầm mặt, quở trách ta tuổi còn trẻ, không hiểu phụ đức.
Mẹ chồng bỗng ngẩng đầu.
“Phụ đức của Thu Thủy, ta hiểu rõ.”
Giọng bà không lớn, nhưng vững vàng chặn đứng lời trách mắng ấy.
“Nàng kính yêu trưởng bối, quán xuyến gia đình mà không ức h/i/ế/p ai, gặp chuyện dám đứng ra gánh vác trách nhiệm. Nếu như vậy vẫn chưa đủ, xin các vị cứ nói xem rốt cuộc còn thiếu điều gì.”
Trong chính đường thoáng chốc yên lặng.
Mẹ chồng mở sổ sách của hồi môn, lần lượt nhắc đến những chuyện năm xưa bà đã bỏ tiền tu sửa từ đường, lo học phí cho cô nhi trong tộc, lấy bạc bù vào những khoản thâm hụt của sản nghiệp gia tộc.
Bà không rơi nước mắt, cũng không lấy ân tình ra ép buộc ai, chỉ đẩy sổ sách đến trước mặt mọi người.
“Những bổn phận và tình nghĩa cần trọn, ta chưa từng thiếu sót. Nay ta muốn sống những ngày tháng sau này thế nào, cũng mong các vị cho phép ta tự mình quyết định.”
Một vị tộc lão tức giận đứng bật dậy, chỉ vào bà nói: “Nếu ngươi tái giá, trăm năm sau đừng hòng được chôn trong phần mộ tổ tiên Lục gia!”
Ngón tay mẹ chồng lại run lên.
Ta vừa định bước đến, Lục Trường Thiên đã khẽ đặt tay lên tay ta dưới gầm bàn, ngăn ta lại.
Câu nói ấy phải để chính mẹ chồng trả lời.
Bà ngồi một mình ở đó, nhìn vị tộc lão kia.
Rất lâu sau, bà mới chậm rãi lên tiếng.
“Vậy thì không vào nữa.”
Vị tộc lão sững sờ.
Thế nhưng mẹ chồng lại như cuối cùng cũng nói rõ được một chuyện đã canh cánh trong lòng suốt nhiều năm, sống lưng căng cứng dần thả lỏng.
“Nửa đời khi còn sống, ta đã ở trong Hầu phủ rồi. Sau khi c/h/ế/t sẽ đi đâu, cứ để sau này bàn tiếp.”
Cuối cùng, mấy vị tộc lão tức giận phất tay áo bỏ đi.
Sau khi cửa đóng lại, mẹ chồng nâng chén trà lên, nhưng tay không giữ vững, khiến nước trà đổ ra tay áo.
Ta bước đến, đỡ lấy chén trà trong tay bà.
Bà thở ra một hơi thật dài.
“Làm ta sợ c/h/ế/t khiếp.”
Ta ôm lấy bà.
Bà tựa vào vai ta, hơi thở dần bình ổn, rồi bỗng khẽ bật cười.
“Nhưng sau khi nói ra rồi, hình như cũng chẳng có gì đáng sợ cả.”
Đêm ấy, bà viết bức thư thứ hai cho Nguyễn Dật Hưng.
Bức thư rất dài.
Bà nói mình vẫn muốn cưỡi ngựa, muốn mở nữ học, cũng muốn ra ngoài ngắm nhìn núi sông. Bà có nhi t/ử, con dâu, có ruộng đất riêng và những cố hữu của mình, không muốn tiếp tục sắp đặt cả cuộc đời chỉ xoay quanh một người.
Cuối thư, bà hỏi ông liệu có thể chấp nhận những điều ấy hay không.
Ngày hôm sau, Nguyễn Dật Hưng đích thân đến Hầu phủ.
Trước tiên ông hành lễ với mẹ chồng, sau đó đưa cho bà một tấm bản đồ lộ trình được vẽ lại.
“Năm xưa vẽ quá sơ sài, rất nhiều bến đò nay cũng đã thay đổi.