Ta cúi đầu nhìn nửa bát canh trong tay mình, đột nhiên rất muốn cười.
Chu Cảnh Sách đã đến, đứng chưa đầy một khắc đồng hồ, hạ một đạo chỉ dụ, rồi bỏ đi.
Hắn không hỏi ta trong bát cháo có thứ gì, không hỏi ta làm sao cầm cự được qua cơn hoạn nạn, thậm chí không hỏi ta ba ngày đó đã sống ra sao.
Hắn chỉ nói vỏn vẹn ba chữ:
Gầy đi rồi.
Ta ngửa đầu lên, đổ nốt nửa bát canh còn lại vào trong miệng.
Lá rau đã nguội ngắt, nhai như nhai cỏ khô.
Lúc nuốt xuống cổ họng một trận đau rát xộc lên, ta ho khục khục hai tiếng, vịnh tường đứng dậy.
Lòng bàn tay cồm cộm nửa chiếc trâm bạc kia.
Ta nắm c.h.ặ.t lấy.
Đêm hôm đó, lạnh cung lần đầu tiên có than đưa tới.
Hai tên thái giám khiêng một sọt than đen đặt ngoài cửa, lại đưa vào trong một lò sưởi và đá lửa.
Chúng nhóm lò sưởi lên, châm than, khói xanh bốc lên nghi ngút khiến người ta sặc sụa ho khan.
Đợi đến khi lửa đã ổn định, trong phòng dần dần ấm áp lên, chúng mới lui ra ngoài.
Ta ngồi bên cạnh lò sưởi, nhìn những ngọn lửa màu cam đỏ nhảy nhót qua lại.
Ánh lửa hắt lên mặt, lần đầu tiên ta cảm nhận được bề mặt da thịt đang rã băng.
Những chỗ bị bỏng lạnh bắt đầu ngứa ngáy, ta lấy mu bàn tay quẹt quẹt vài cái, quẹt xuống một lớp da mỏng.
Ngọn lửa rất ấm áp.
Ấm áp đến mức khiến ta hơi buồn ngủ.
Nhưng ta không thể ngủ được.
Đợi đến khi đêm xuống sâu hơn một chút, đợi tiếng trống canh gõ qua ba lượt, đợi đến khoảng thời gian trống khi toán thái giám tuần đêm cuối cùng bên ngoài lạnh cung giao ca.
Ta đứng dậy, cởi bộ y phục mùa đông có thêu hoa dành dành ra, thay bằng bộ áo bông rách nát ban đầu của mình.
Dao găm buộc c.h.ặ.t vào bắp chân, trâm bạc cài trên mái tóc.
Than trong lò sưởi đang cháy rực, ta ném vào trong đó nửa miếng bông ướt, khói xanh bùng lên dữ dội, căn phòng lập tức trở nên mờ mịt.
Khóa cửa là móc từ bên ngoài, bên trong có gài một chiếc then gỗ.
Ta rút then gỗ ra, đẩy cửa ra một khe hở.
Gió lạnh ùa vào, tạt thẳng vào mặt đau như d.a.o cắt.
Bên ngoài không có người.
Trong ngõ dài tối om om, tuyết phản chiếu chút ánh sáng mờ nhạt, loáng thoáng có thể nhìn thấy vách tường hai bên.
Tiếng trống canh vừa dứt, khoảng thời gian giao ca có chừng nửa tuần trà.
Ta lách người ra ngoài, đưa tay khép hờ cửa lại.
Men theo chân tường mà đi.
Gió rất lớn, đè c.h.ặ.t tiếng bước chân ch/ết lặng.
Đi hết con ngõ dài rẽ một cái chính là Ngự uyển, băng qua Ngự uyển đi về phía Đông thêm một tuần trà nữa là có thể đến Phượng Nghi cung.
Ta không đi Ngự uyển.
Ta đi con đường hẹp phía Tây.
Con đường đó hẹp, hai bên đều là tường cao v/út, ban ngày cũng chẳng rọi nổi ánh mặt trời, ban đêm lại càng thêm tăm tối.
Nhưng con đường đó không có thái giám tuần đêm, vì cuối con đường hẹp là Hoán Y cục đã bị bỏ hoang, chẳng ai bén mảng tới.
Ta mò mẫm vách tường mà đi, dưới chân giẫm lên lớp tuyết c.h.ặ.t, phát ra tiếng lạo xạo, nhưng gió lại lớn hơn, thổi những cành cây khô trên bờ tường kêu răng rắc, hoàn toàn át đi tiếng động.
Đi đến đoạn giữa con đường hẹp, ta khựng lại.
Phía trước có một người đang ngồi xổm.
Một lão thái giám, co rụt nơi góc tường, giống như đã ngủ thiếp đi.
Trước mặt lão bày một chiếc đèn l.ồ.ng giấy đã tắt mất một nửa, ngọn lửa bằng hạt đậu lung lay sắp sập trong gió.
Bước chân ta khựng lại một nhịp.
Lão thái giám ngẩng đầu lên.
Ánh đèn l.ồ.ng soi rõ gương mặt lão, đầy những nếp nhăn nheo, đôi mắt đục ngầu.
Lão nhìn thấy ta, không hề kinh ngạc cũng chẳng kêu la, chỉ chậm chạp đưa một ngón tay lên đặt trước môi.
“Suỵt."
Ta nhìn chằm chằm vào lão.
Lão nhe răng cười với ta một cái, để lộ chiếc răng cửa đã rụng mất một nửa.
“Đi đường của ngươi đi," giọng lão thều thào, như đang ngậm một ngụm nước, “lão nô chẳng nhìn thấy gì cả."
Ta không nhúc nhích.
Lão lại xua xua tay:
“Mau đi đi.
Trễ nữa là phía Phượng Nghi cung tắt đèn đấy.
Liễu nương nương mỗi ngày vào giờ Hợi khắc ba sẽ tắm gội, giờ Hợi đúng khắc sẽ rút trâm cài.
Ngươi canh giờ mà đến."
Câu nói này giống như một gáo nước băng dội thẳng từ đỉnh đầu ta xuống.
Toàn thân ta cứng đờ.
Lão biết ta là ai.
Lão biết ta muốn đi đâu.
Lão thậm chí biết rõ Liễu Như Yên mỗi ngày lúc nào sẽ rút trâm cài tóc.
“Ngươi là người ngày hôm đó lén trả lại trâm bạc cho ta?"
Giọng ta đè thấp đến mức tối đa.
Lão thái giám không thừa nhận cũng chẳng phủ nhận, chỉ đem chiếc đèn l.ồ.ng kéo sát về phía chân mình, co rụt người vào trong bóng tối.
Cuối cùng có một câu nói trôi nổi ra ngoài, nhẹ tựa tiếng thở dài:
“Hoàng hậu nương nương, cha của người năm xưa có ơn cho lão nô một bữa cơm."
Nói xong lão liền nhắm mắt lại.
Ngọn lửa của chiếc đèn l.ồ.ng giấy lóe lên một cái, rồi tắt lịm.
Con đường hẹp lại chìm vào bóng tối dày đặc.
Ta đứng trong bóng tối đếm từ một đến mười, sau đó tiếp tục sải bước về phía trước.
Bước chân dưới lòng bàn chân còn nhanh hơn lúc nãy.
Gió lùa vào cổ áo, mảng da bị bỏng lạnh trên má như bị người ta lấy giấy nhám chà đi xát lại, nhưng ta không hề dừng lại.
Giờ Hợi khắc ba.
Còn chưa đầy nửa canh giờ nữa.
Bức tường sau của Phượng Nghi cung thấp hơn so với tưởng tượng của ta.
Quy củ trong cung, tường viện nơi ở của các phi tần không được cao hơn Phượng Nghi cung của Hoàng hậu.
Năm đó khi ta làm Hoàng hậu, tường Phượng Nghi cung xây cao ba trượng sáu thước, Liễu Như Yên sau khi phong hậu theo chế độ không được vượt quá quy củ, cho nên bức tường sau này của ả chỉ cao hơn hai trượng một chút.
Dưới chân tường có một cây hòe già, mùa đông rụng sạch lá, cành cây đ.â.ma ngang dọc chỉa ra bốn phía, vừa vặn bắc lên tận bờ tường.
Ta giẫm lên những vết sẹo trên thân cây mà trèo lên, ngón tay đã đông cứng, bấu hụt mấy lần mới bám chắc vào vỏ cây.
Áo bông cọ xát sột soạt, cũng may gió lớn, đã át đi cả rồi.