Đáng tiếc, hối hận lúc này đã muộn.
Kinh Triệu Doãn đích thân dẫn người đến Hầu phủ, niêm phong kho phủ và sổ sách, bắt đầu kiểm kê của hồi môn.
Không tra thì thôi, vừa tra đã khiến người trong phủ kinh hãi.
Trong mấy năm qua, Bùi Hầu gia đã lén bán bốn điền trang thuộc của hồi môn của bà mẫu, lấy bạc mua nhà cho Liễu di nương, cho Bùi Cảnh tiêu xài ở thư viện, còn dùng để bản thân nạp thiếp bày tiệc.
Tổng cộng quy ra một vạn tám ngàn lượng bạc.
Theo luật Đại Yến, kẻ chiếm đoạt của hồi môn của chính thê không chỉ phải hoàn trả đủ số, mà còn chịu bốn mươi trượng, bị đày ba năm.
Trên công đường, Bùi Hầu gia quỳ dưới đất, chẳng còn chút uy phong Hầu gia nào. Ông ta vừa khóc vừa cầu xin bà mẫu.
“Phu nhân, một ngày phu thê trăm ngày ân nghĩa, nàng tha cho ta lần này đi.”
Bà mẫu đứng trước công đường nhìn ông ta, ánh mắt bình lặng như nhìn một người xa lạ.
“Bùi Kính Chi.”
Bà nói: “Ông còn nhớ ngày ta vừa ra tháng sau khi sinh Cảnh nhi không?”
Bùi Hầu gia cứng người.
“Hôm ấy, ta bảo phòng bếp chuẩn bị một bàn đồ ăn, chỉ muốn cùng ông ăn một bữa cơm đàng hoàng. Ông đi đến cửa, nhìn ta một cái, rồi nói gì, ông còn nhớ không?”
Môi Bùi Hầu gia run rẩy, nhưng một chữ cũng không thốt ra được.
“Ông nói ta đã béo đến thế rồi còn ăn, chẳng thấy mất mặt sao.”
Nước mắt bà mẫu cuối cùng rơi xuống.
Nhưng bà không lau, cũng không né tránh.
Bà chỉ nhìn nam nhân trước mắt, từng chữ rõ ràng: “Bùi Kính Chi, ta đã nhịn ông quá lâu rồi.”
Cuối cùng, Bùi Hầu gia bị phán hoàn trả toàn bộ của hồi môn, chịu bốn mươi trượng và đi đày ba năm.
Liễu di nương là đồng phạm, bị bán khỏi phủ, đưa vào giáo phường.
Bùi Cảnh vì cùng phụ thân chiếm đoạt của hồi môn của mẫu thân, bị xóa tên khỏi gia phả, tước công danh, vĩnh viễn không được bước vào quan trường.
Ngày tuyên án, Liễu di nương khóc đến khản cổ, ôm c.h.ặ.t cột nha môn không chịu đi.
Ta đi đến trước mặt bà ta, ngồi xổm xuống nhìn gương mặt lem luốc nước mắt.
“Di nương.”
Ta cười nói: “Chẳng phải người thích khoe vòng eo nhỏ nhất sao?”
“Trong giáo phường, ai nấy đều có vòng eo một tay ôm trọn. Người đến đó, cũng coi như tìm được chốn hợp ý rồi.”
Sau khi mọi chuyện kết thúc, ta và bà mẫu dọn khỏi Hầu phủ, chuyển đến điền trang thuộc của hồi môn của bà.
Trên trang có một rừng đào. Mỗi độ xuân về, hoa đào nở rực một vùng như mây hồng rơi xuống nhân gian.
Ta cho người dựng một bếp đất cạnh rừng đào.
Hôm ấy, chúng ta nướng nguyên một con dê, quét năm lớp mật ong, da ngoài cháy xém thơm lừng, thịt bên trong lại mềm mọng đẫm nước.
Bà mẫu ngồi cạnh bếp, nhìn rừng hoa phía xa, ăn thịt dê một lúc rồi bỗng nói: “Ta muốn ăn món ba chỉ con nướng đêm đầu tiên.”
Ta cười, gắp một miếng ba chỉ đang reo mỡ trên đĩa, đưa thẳng đến miệng bà.
Bà nhai thật chậm, trong mắt lại ngân ngấn nước.
“Điều ta hối hận nhất đời này không phải là gả nhầm người.”
Bà nhìn về phía xa, giọng nhẹ như gió qua cành đào: “Mà là đã để mình đói suốt mười lăm năm, đến giờ mới biết một bữa cơm ngon có thể khiến lòng người ấm đến vậy.”
Ta đưa cho bà một xiên ba chỉ vừa nướng xong, rắc thì là, rồi lại thêm một lớp ớt bột.
“Mẫu thân.”
Ta nói: “Sau này còn mấy chục năm nữa. Bữa nào chúng ta cũng ăn ngon, ăn đủ, bù hết những ngày từng bạc đãi chính mình.”
Bà nhận lấy xiên thịt, c.ắ.n một miếng thật lớn, khóe môi dính đầy thì là.
Nắng xuân xuyên qua hoa đào, rơi dịu dàng trên gương mặt bà.
Năm tháng bỗng yên bình đến mức khiến người ta muốn ở lại mãi trong khoảnh khắc ấy.
Hai năm sau, ta mở một quán ăn ngay trên trang, chuyên bán thịt nướng và lẩu.
Toàn là những món ta từng thích trước khi xuyên qua, hương thơm bốc lên là đủ khiến người qua đường phải ngoái đầu.
Các phu nhân, tiểu thư trong kinh thành lũ lượt tìm đến, đều nói thịt ở đây thơm bay mười dặm, ăn một lần liền nhớ mãi.
Bà mẫu làm chưởng quầy của quán.
Bây giờ bà đã đầy đặn hơn hai mươi cân, vẻ lạnh cứng trên mặt ngày xưa được những ngày tháng no đủ và bình yên dần dần làm mềm lại.
Khi bà cười, hai má lúm đồng tiền hiện ra, trông còn trẻ trung hơn cả ta.
Một hôm, trong quán có một nữ nhân đội nón che mặt bước vào.
Bà ta gầy trơ xương, đi đường lảo đảo như chiếc lá khô sắp rụng.
Bà ta gọi một đĩa ba chỉ, nhưng ngồi rất lâu vẫn không ăn nổi một miếng, chỉ lặng lẽ lau nước mắt trong góc.
Ta nhận ra đó là Liễu di nương.
Bà ta đã gầy đến không còn dáng vẻ cũ, gương mặt từng khiến Bùi Hầu gia mê đắm nay héo hắt như vỏ quýt phơi lâu ngày.
Ta không đuổi bà ta đi.
Ta chỉ bảo tiểu nhị gói cho bà ta một phần ba chỉ, rắc gấp đôi thì là.
Bà ta đứng ở cửa, quay đầu nhìn ta, môi mấp máy như muốn nói điều gì.
Ta không nghe.
Ta xoay người trở vào bếp sau.
Trên tấm sắt nóng, từng dải ba chỉ đang chảy mỡ xèo xèo, hương thơm phủ đầy gian bếp.
Ta cầm chổi phết mật ong lên mặt thịt, ngọn lửa bỗng bùng lên, soi đỏ khuôn mặt ta.
Khói lửa nhân gian, hóa ra thật sự là thứ thơm lành nhất trên đời.
HẾT.