Bà nhìn ta, chậm rãi căn dặn:
“Cô nương phải nhớ, ở nơi này, một người chưa bao giờ chỉ đại diện cho chính mình. Sau lưng họ còn có phụ tộc, mẫu tộc, ân sủng, con cái, ân oán và những món nợ mà người ngoài không thể nhìn thấy.”
Ta ngẫm nghĩ một lát rồi hỏi:
“Vậy chỉ cần nhớ những điều ấy là đủ sao?”
Hà Thượng Nghi lắc đầu.
“Nhớ chỉ là bước đầu. Quan trọng hơn cả là phải biết khi nào nên nói, khi nào nên im lặng, người nào có thể tới gần, người nào dù nghe được một câu cũng phải coi như chưa từng nghe thấy.”
Từ đó, ta bắt đầu hiểu ra những điều mà sách lễ nghi chưa từng dạy.
Một phần thưởng nhiều hơn hai cuộn gấm có thể là sự nâng đỡ, nhưng cũng có thể là lời nhắc nhở.
Một chỗ ngồi cách chủ vị nửa bước có thể khiến cả gia tộc vui mừng, nhưng cũng đủ làm người khác mất ngủ suốt đêm.
Thái hậu không bắt ta ngày ngày học cách tính kế người khác. Người chỉ thường để ta ngồi bên cạnh mỗi khi tiếp kiến các mệnh phụ.
Ta nghe người trò chuyện với các nữ quan, thỉnh thoảng người lại bất chợt quay sang hỏi:
“Con thấy thế nào?”
Khi còn nhỏ, ta thường trả lời sai. Về sau, ta mới dần hiểu được rằng trước khi mở miệng, nhất định phải suy nghĩ xem lời mình nói sẽ lọt vào tai ai.
Có một lần, ta cho rằng một vị phu nhân được ban thưởng hậu hĩnh hơn người khác là vì nhà chồng vừa lập công.
Thái hậu nghe xong, không vội đ/á/n/h giá đúng sai mà chỉ hỏi lại:
“Nếu chỉ vì công lao, tại sao không ban thưởng từ tháng trước?”
Ta suy nghĩ rất lâu mới hiểu ra.
Món quà ấy được ban đúng lúc gia đình kia đang bị người khác chèn ép, vừa đủ để thiên hạ biết rằng thái hậu vẫn còn nhớ đến họ.
Người không khen ngợi ta, chỉ khẽ gật đầu rồi nói:
“Biết nhìn thời điểm, mới coi như bắt đầu hiểu được đôi chút.”
Ta dần nhận ra rằng nơi này không dạy ta cách hãm hại người khác, mà dạy ta nhìn nhận một sự việc từ nhiều phía.
Bởi chỉ cần bỏ sót một phía, người cuối cùng chịu thiệt rất có thể chính là bản thân ta.
Năm tháng dần trôi qua, ta không còn là tiểu cô nương đứng giữa điện, run rẩy đến mức chẳng thể cất lời.
Thái hậu ngày càng cho phép ta ở bên cạnh người lâu hơn, giao cho ta xem xét một phần sổ sách, học cách tiếp đãi mệnh phụ và xử lý những việc nhỏ trong Thọ Khang cung.
Có một lần, ta không nhịn được tò mò, bèn hỏi người:
“Trong mấy trăm phần tông sách của Khổng thị, vì sao cô tổ mẫu lại chọn con?”
Thái hậu vừa lần chuỗi Phật châu vừa đáp, giọng điệu vô cùng bình thản:
“Phụ thân con viết rằng con có tính tình trầm tĩnh, biết sợ nhưng gặp chuyện không hoảng loạn, được thì vui mà không tham lam, mất thì buồn nhưng chẳng cố chấp.”
Ta nghe xong, nhất thời ngẩn người.
Thái hậu nhìn ta rồi nói tiếp:
“Người thông minh trong Khổng thị không thiếu. Nhưng ở nơi này, thông minh quá mà không biết nhẫn nhịn, chưa chắc đã là phúc.”
Ta cúi đầu, suy nghĩ một lúc rồi hỏi:
“Vậy cô tổ mẫu mong con trở thành người thế nào?”
Thái hậu nhìn ta thật lâu, sau đó mới chậm rãi đáp:
“Ai gia chỉ mong con nhìn rõ bản thân đang đứng ở đâu. Người không biết vị trí của mình mới là người dễ bước nhầm nhất.”
Khi ấy, ta vẫn chưa hiểu được rằng lời nói ấy sẽ theo mình suốt nửa đời sau.
Năm ta chín tuổi, thái t/ử Tiêu Dương lần đầu tiên được thái hậu cho phép ở lại gặp ta.
Trước đó, mỗi khi chàng đến thỉnh an, Hà Thượng Nghi đều đưa ta lui xuống bằng cửa bên.
Nhưng hôm ấy, thái hậu bỗng lên tiếng:
“Không cần đi, cứ ở lại đây.”
Một lát sau, rèm châu được vén lên, một thiếu niên mặc cẩm bào bước vào.
Vừa hành lễ xong, chàng đã bắt đầu cười nói không ngừng, khiến Thọ Khang cung vốn yên tĩnh bỗng có thêm mấy phần sinh khí.
Chàng mang theo một đĩa bánh quế mới làm, còn nói mình đã cố ý vòng qua ngự hoa viên hái hoa, sau đó sai người làm bánh để hoàng tổ mẫu nếm thử.
Thái hậu bật cười, vừa nhìn chàng vừa trách yêu:
“Con đúng là ngày nào cũng biết cách dỗ dành người khác.”
Tiêu Dương nghe vậy chỉ cười, nhưng khi quay đầu lại, chàng chợt nhìn thấy ta.
Chàng thoáng ngẩn người, sau đó tự nhiên hỏi thái hậu:
“Hoàng tổ mẫu, bên cạnh người từ khi nào lại có một vị tiên nữ thế này?”
Ta vội đứng dậy hành lễ:
“Thần nữ Khổng Chỉ Lan, bái kiến thái t/ử điện hạ.”
Tiêu Dương nghe vậy liền cười, phất tay nói:
“Đừng gọi điện hạ mãi, nghe xa lạ quá. Ta là Tiêu Dương, nàng cứ gọi tên ta là được.”
Thái hậu không lên tiếng ngăn cản, ta liền thuận theo lời chàng:
“Được, Tiêu Dương.”
Chàng lập tức đưa cho ta một miếng bánh quế, ánh mắt sáng rực, dáng vẻ vui mừng chẳng khác nào vừa đạt được một chuyện vô cùng to lớn.
Kể từ hôm đó, Tiêu Dương thật sự thường xuyên đến Thọ Khang cung.
Có khi chàng mang theo điểm tâm, có khi ôm vài quyển sách, lúc khác lại kéo ta đến Thính Trúc Hiên đ/á/n/h cờ.
Chàng hoàn toàn khác với những người mà ta từng gặp trong cung.
Vui thì chàng cười, giận thì chàng cau mày. Mỗi lần thua cờ, chàng đều tìm đủ mọi lý do để nói rằng nước đi vừa rồi không tính.
Ta thường cố ý hỏi:
“Thái t/ử điện hạ cũng có thể nuốt lời sao?”
Chàng lập tức trừng mắt nhìn ta:
“Đã bảo nàng đừng gọi điện hạ rồi!”
Ta lại cố ý cúi đầu, ngoan ngoãn đáp:
“Vâng, điện hạ.”
Tiêu Dương tức đến bật cười, cuối cùng đành tự mình gom những quân cờ trên bàn lại.
“Được rồi, được rồi! Ta nhận thua. Lần sau nhất định sẽ thắng nàng!”
Thính Trúc Hiên dần trở thành nơi quen thuộc nhất của hai chúng ta.
Mùa hè, nơi ấy có tiếng gió lướt qua rừng trúc. Mùa đông, chúng ta có thể ngồi bên cửa sổ, lặng lẽ ngắm tuyết rơi.
Mỗi khi đọc sách mệt mỏi, Tiêu Dương lại dựa vào ghế, than thở rằng thái phó quá nghiêm khắc.
Ta chỉ đẩy một chén trà đến trước mặt chàng, bình thản nhắc nhở:
“Ngày mai vẫn phải học mà.”
Có đôi khi, chàng bực bội vì bị hoàng đế trách phạt. Ta không biết phải an ủi thế nào, chỉ lặng lẽ ngồi bên cạnh, chờ đến khi chàng tự mình nói hết những điều chất chứa trong lòng.