Ta vẫn giữ vẻ bình thản, chậm rãi nói:
“Điện hạ và Ôn cô nương tình đầu ý hợp. Nếu ta vào Đông cung, chỉ khiến cả ba người đều không được yên ổn. Ba ngày nữa, ta sẽ trở về T/ử Điền.”
Chàng lập tức đứng bật dậy.
“Nàng muốn rời kinh?”
Ta gật đầu.
“Vâng.”
Tiêu Dương nhìn ta, giọng nói bất giác trở nên gấp gáp:
“Chỉ Lan, nàng không cần phải đi. Tú Ngọc Hiên vẫn là nơi của nàng, hoàng tổ mẫu cũng cần nàng ở bên cạnh.”
Ta khẽ mỉm cười.
“Nhưng ta cần phải đi.”
Chàng nhìn ta rất lâu. Cuối cùng, vẻ kiên quyết trên gương mặt ấy cũng dần nhạt đi, chỉ còn lại sự mệt mỏi.
Giọng chàng khàn xuống:
“Nàng thật sự đã quyết định rồi sao?”
“Đã quyết định.”
Tiêu Dương nhắm mắt một lúc, sau đó mới chậm rãi nói:
“Được. Cô thành toàn cho nàng.”
Khi chàng xoay người, chuẩn bị rời đi, ta bỗng lên tiếng gọi:
“Tiêu Dương.”
Chàng khựng lại, quay đầu nhìn ta.
Ta bước đến trước mặt chàng, nhón chân, đặt một nụ hôn thật nhẹ bên môi chàng.
Tiêu Dương cứng đờ người.
Còn ta lập tức lùi lại, bàn tay lạnh đến mức khẽ run lên.
Mười năm qua, ta đã học được quá nhiều điều về đúng sai, quy củ và chừng mực. Ta luôn biết mình nên làm gì, không nên làm gì, phải tiến hay lùi ở đâu.
Vậy mà vào khoảnh khắc ấy, ta chỉ muốn cho phép bản thân yếu lòng một lần cuối cùng.
Ta nhìn chàng, khẽ nói:
“Chuyện hôm nay, điện hạ hãy quên đi.”
Tiêu Dương dường như muốn mở miệng, nhưng cuối cùng vẫn không nói được lời nào.
Chàng chỉ xoay người, bước thật nhanh ra khỏi Tú Ngọc Hiên.
Đợi đến khi cánh cửa khép lại, nước mắt ta mới rơi xuống.
Sáng hôm sau, ta vẫn rời khỏi Trường An.
Ngày ấy cũng chính là ngày thái t/ử đại hôn.
Ngoài phố giăng đầy lụa đỏ, tiếng pháo và tiếng người chúc mừng vang lên khắp nơi. Xe ngựa của ta lại đi theo hướng ngược lại, chậm rãi tiến về phía cổng thành.
Có người đứng bên đường xì xào bàn tán, nói rằng nữ nhi Khổng thị ngay cả vị trí chính phi cũng không giữ nổi, thật khiến gia môn mất mặt.
Mẫu thân nghe thấy, vành mắt lập tức đỏ hoe.
Phụ thân chỉ nhắm mắt dưỡng thần, không nói một lời.
Mãi một lúc sau, người mới chậm rãi lên tiếng:
“Thế sự như bàn cờ. Có người thắng nhờ từng bước ép sát, cũng có người thắng nhờ biết khi nào nên buông tay khỏi một quân cờ đã c/h/ế/t.”
Ta nhìn màn lụa đỏ ngoài cửa xe dần lùi xa, khẽ hỏi:
“Phụ thân cho rằng con làm đúng sao?”
Người mở mắt, bình thản đáp:
“Đúng hay sai, phải chờ nhiều năm nữa mới biết. Nhưng ít nhất, hôm nay con không tự bán rẻ mình chỉ để giữ lấy một người đã đổi lòng.”
Ta cúi đầu.
Đây là lần đầu tiên sau rất nhiều ngày, ta cảm thấy l/ồ/ng n/g/ự/c mình nhẹ nhõm hơn đôi chút.
Trở về T/ử Điền, ta lại sống những ngày tháng bình lặng như thuở trước.
Ta chỉ làm ba việc: đọc sách, ở bên phụ mẫu và thỉnh thoảng nghe ngóng tin tức từ kinh thành.
Ta không cho người âm thầm trà trộn vào Đông cung, cũng chẳng sai ai theo dõi từng hành động của Ôn Kỳ Mẫn. Bởi một khi đã rời đi mà lòng vẫn ngày đêm vướng bận nơi ấy, thì chẳng khác nào chưa từng thật sự bước ra.
Những tin tức quan trọng vẫn theo đường thân tộc Khổng thị truyền đến tai ta, nhưng ta chỉ lặng lẽ lắng nghe, rất ít khi đưa ra nhận xét.
Ban đầu, Tiêu Dương thỉnh thoảng gửi thư hỏi thăm, muốn biết ta ăn uống có ngon miệng không, đêm ngủ có yên giấc không. Ta chỉ hồi âm vài dòng ngắn ngủi, phần lớn là những lời vấn an khách sáo.
Về sau, thư chàng gửi đến ngày một dài hơn. Trong những dòng chữ ấy, dần dần xuất hiện những lời than thở.
Ôn Kỳ Mẫn không quen với cung quy, khi xử lý cung vụ lại thường hành sự theo cảm tính. Có đôi lần nàng vô tình đắc tội với gia quyến của các quan viên mà vẫn chẳng hề hay biết. Tiêu Dương hết lần này đến lần khác phải đứng ra thu xếp hậu quả, khiến Hoàng hậu ngày càng nghiêm khắc với nàng.
Có lần, Xuân Lâm đọc xong tin tức mới nhận được, không nhịn được mà hỏi ta:
“Chủ t/ử, người có cảm thấy hả giận không?”
Ta khẽ lắc đầu.
“Có gì đáng để hả giận chứ? Nàng ấy sống tốt hay không tốt, suy cho cùng cũng là cuộc đời của chính nàng ấy.”
Hà cô cô đứng bên cạnh nghe vậy, chỉ mỉm cười.
Thấm thoắt đã hai năm trôi qua. Những chuyện từng khiến ta trằn trọc suốt đêm, giờ đây đã trở thành ký ức mà ta có thể bình thản nhắc lại.
Ta vẫn nhớ Tiêu Dương, nhưng không còn ngày ngày tự hỏi, nếu năm ấy chàng chưa từng gặp Ôn Kỳ Mẫn thì mọi chuyện sẽ đi về đâu.
Trên đời vốn chẳng có nhiều chữ “nếu” như thế. Chuyện đã xảy ra thì chính là đã xảy ra, dù có hối tiếc đến đâu cũng không thể quay về quá khứ.
Đầu đông năm thứ hai, Hà cô cô nhắc ta rằng tháng sau là thọ thần của Thái hậu nương nương.
Ta gấp quyển sách đang cầm trong tay lại. Hai năm chưa trở về, trong lòng ta quả thật rất nhớ người.
Mẫu thân nhìn ta, nhẹ giọng hỏi:
“Con muốn trở về sao?”
Ta gật đầu.
“Cô tổ mẫu đã nuôi dạy con suốt mười lăm năm. Thọ thần của người, con không thể mãi vắng mặt.”
Phụ thân nhìn ta hồi lâu rồi mới nói:
“Vậy thì trở về đi. Con trở về là vì trưởng bối, không cần vì bất kỳ ai khác.”
Ta hiểu ý của người, chỉ khẽ đáp:
“Con biết.”
Lần này trở lại Trường An, ta không còn là cô gái năm xưa ngồi trong xe ngựa, nghe tiếng nhạc mừng đại hôn của người mình yêu rồi âm thầm rơi nước mắt nữa.
Ta đã khác, mà những người ở nơi ấy cũng chẳng còn như trước.
Thế nhưng, ta vừa trở về cung chưa được bao lâu, Ôn Kỳ Mẫn đã khiến thọ yến của Thái hậu biến thành một trận náo loạn.
Hôm ấy tuyết rơi rất lớn. Có lẽ muốn tạo nên một cảnh tượng phong nhã, nàng đã chọn mấy vị quý nữ trẻ tuổi, để họ khoác sa y mỏng manh đứng giữa Mai Viên, vừa ngắm hoa vừa ngâm thơ chờ đón nghi giá của Thái hậu.
Ý tưởng nghe qua quả thực có chút thi vị. Đáng tiếc, giữa tiết trời đông giá rét, những lớp sa mỏng ấy chẳng thể ngăn nổi gió tuyết.
Khi Thái hậu, Hoàng đế và Hoàng hậu đi ngang qua Mai Viên, mấy vị cô nương đã lạnh đến mức môi tím tái. Thơ còn chưa kịp ngâm được mấy câu, tiếng hắt hơi đã vang lên liên tiếp.