Người lái đò đang ngồi ven bờ vá lưới rách.
Nhìn thấy nàng, ban đầu ông không nhận ra.
Đợi ta kể hết mọi chuyện, bàn tay ông dần dừng lại.
“Trận nước mười năm trước là do người ta mở ra?”
Tiểu muội gật đầu.
Ông ngồi đó rất lâu không nhúc nhích.
Sau đó đứng dậy.
“Dẫn ta đi xem.”
Chúng ta tới núi trà cũ.
Người lái đò đi nhanh hơn tất cả.
Ông nói trước kia cứ đến Cốc Vũ, ông đều thay nhà nhạc phụ cõng trà xuống núi.
Hòn đá nào trơn, đường dốc nào gần, ông đều nhớ.
Đi tới lưng chừng núi, phía trước xuất hiện một đoạn kênh đá đã bỏ hoang.
Người lái đò chợt dừng lại.
Ông ngồi xổm xuống, gạt lá khô phủ trên mặt.
Trên đá có một hàng vết đục rất sâu.
“Trước kia không có cửa này.”
Tiểu muội hỏi:
“Ông chắc chứ?”
Người lái đò ngẩng đầu.
“Năm đó ta hai mươi bảy, không phải bảy tuổi.”
Ông men theo kênh đá đi mãi xuống dưới.
Cuối cùng dừng trước một đoạn đê cũ đã sập.
Bên dưới chính là Tê Hà Ổ của mười năm trước.
Ông ngồi xổm nhìn rất lâu, bỗng nói:
“Con trai ta đêm ấy vừa mới biết gọi cha.”
Không ai đáp.
“Bình thường ta chèo thuyền trở về, nó nghe tiếng chân là bò ra.”
“Lúc nước tràn vào nhà, có lẽ nó cũng đang tìm ta.”
Khi nói những lời này, giọng ông rất bình.
Y hệt lần đầu ta gặp ông.
Sau đó ông đứng dậy.
“Đi.”
Ta hỏi:
“Đi đâu?”
“Tìm chứng cứ.”
“Chỉ dựa vào mấy tảng đá này, nhà họ Bạch hoàn toàn có thể nói là lũ cuốn.”
Ông sống thêm mười năm.
Hiểu hơn chúng ta rằng muốn đòi nợ cho người c.h.ế.t, chỉ khóc là vô dụng.
Chúng ta không tìm sổ của nhà họ Bạch nữa.
Sổ của họ có thể đốt, cũng có thể sửa.
Chúng ta bắt đầu lần theo trà mà tìm ra ngoài.
Người dẫn đầu thương đội là người đầu tiên đem sổ cũ ra.
Sáu năm trước, hắn từng vận chuyển ba mươi cân “trà giống cổ Tê Hà” cho một hiệu trà.
Năm năm trước, bốn mươi hai cân.
Trước nữa cũng có.
Nhưng sau trận lũ, huyện nha rõ ràng từng ban văn thư:
“Trà sơn cũ Tê Hà sạt lở, phong sơn cấm vào.”
Nếu chẳng ai vào được, những mẻ trà cổ thật sự này từ đâu ra?
Chúng ta men theo đường buôn hỏi từng nhà.
Bảy thương nhân buôn trà, bốn hiệu trà.
Mỗi nhà ghi không nhiều, nhưng ghép lại thì đủ mấy trăm cân.
Cuối cùng, một lão phu khuân vác mù một mắt lôi từ gầm giường ra một tờ phiếu tiền công.
Ông không biết chữ.
Nhưng giấy nào từng điểm chỉ ông cũng không nỡ vứt, sợ sau này chủ thuê nói ông chưa làm, còn bắt trả lại tiền.
Tờ giấy ấy đã giòn đến mức chạm nhẹ cũng rơi vụn.
Trên đó viết:
“Vào vườn cũ Tê Hà, hái b.úp xuân.”
Ngày tháng là năm thứ hai sau trận lũ.
Ta hỏi lão phu:
“Khi đó chẳng phải nói đường đã sập hết rồi sao?”
Ông kỳ quái nhìn ta.
“Đi phía tây chứ.”
Người lái đò lập tức ngẩng đầu.
“Phía tây lấy đâu ra đường?”
“Đường mới mở.”
Lão phu chỉ tay vào trong núi.
“Men theo đê cũ mà vào.”
Người lái đò đứng bật dậy, hất đổ cả ghế.
Chúng ta đuổi theo.
Suốt đường ông không nói gì.
Mãi tới trước kênh đá kia, ông mới chỉ vào cửa nước bị đục mở.
“Đây không phải đường.”
“Đây là cửa xả nước năm đó.”
Sau trận lũ, nhà họ Bạch không lấp kín nó.
Ngược lại còn sửa thành đường ngầm để vào vườn trà cũ.
Mỗi năm họ giẫm trên đường nước từng cuốn c.h.ế.t người Tê Hà Ổ mà đi vào.
Hái trà còn sót lại của Tê Hà Ổ.
Rồi đem ra ngoài bán với danh “Tê Hà Vũ Tiền”.
Nhà họ Bạch rất nhanh ra tay.
Lần này không phải đốt sổ.
Mà là kiện tiểu muội.
Sai dịch huyện nha tới bắt người, tội danh một dãy dài.
Lén sửa địa khế, chiếm đoạt tiền trà, làm giả sổ sách, sợ tội bỏ trốn…
Điều cuối cùng còn hoang đường hơn.
“Mạo danh Bạch Nhị phu nhân đã mất.”
Tiểu muội nghe xong cũng bật cười.
“Ta mạo danh chính ta?”
Sai dịch chẳng quan tâm.
Xích sắt tròng lên, vẫn cứ lôi người đi.
Tới huyện nha, ta mới thật sự nhìn rõ cái hố nhà họ Bạch đào cho nàng sâu đến mức nào.
Trên công đường bày hơn mười tờ khế cũ.
Tất cả đều là chữ nàng, còn có con dấu riêng năm đó của nàng.
Huyện lệnh hỏi:
“Ngươi có nhận hay không?”
Tiểu muội nói:
“Chữ là của ta.”
Dưới đường lập tức xôn xao.
Huyện lệnh cười lạnh.
“Vậy còn gì để nói?”
“Ta chỉ phụ trách chép lại.”
“Ai bảo ngươi chép?”
“Nhà họ Bạch.”
Muội phu đứng ngay bên cạnh.
Nhiều năm không gặp.
Nay tiểu muội lại sống sờ sờ đứng trước mặt hắn, cả người hắn như cứng lại.
Rất lâu sau mới nặn ra được một câu:
“Nàng còn sống.”
Tiểu muội liếc hắn.
“Thất vọng sao?”
Mặt hắn lập tức trắng bệch.
Huyện lệnh vỗ kinh đường mộc, không cho họ nói nữa.
Nhà họ Bạch c.ắ.n c.h.ế.t một điều.
Những tờ khế ấy đều do tiểu muội tự tay xử lý.
Còn vì sao ba năm trước nàng bỗng biến mất—
Chính là bởi chuyện bại lộ, sợ tội bỏ trốn.
Huyện lệnh không cho nàng biện thêm, ngay tại công đường hạ lệnh tống giam.
Ta đuổi tới ngoài cửa lao, chỉ kịp nhìn đoạn xích sắt kéo trên bậc đá.
Tiểu muội quay đầu hét với ta:
“Tỷ, đừng đưa bạc!”
“Một văn cũng đừng đưa cho họ!”
Ngục tốt đẩy nàng vào.
Cửa lao “rầm” một tiếng đóng lại.
Đêm ấy, muội phu tới nhà lao.
Sau này tiểu muội kể với ta, hắn còn mang theo hộp thức ăn.
Một bát cơm trắng, hai đĩa thức ăn, cùng một gói bánh ngọt nàng từng thích ăn.
Hắn bày từng món ra.
Tiểu muội tựa tường, không động.
“Có gì thì nói.”
Muội phu lấy từ trong tay áo ra một tờ giấy, đặt trước mặt nàng.
Là một tờ nhận tội.
Nàng chỉ cần nhận vài tờ khế cũ.
Thừa nhận năm đó mình tham ô tiền trà nên mới làm giả một phần địa khế.
Còn chuyện lũ lụt, đê tây, sổ cũ nhà họ Bạch, một chữ cũng không được nhắc.
“Phần còn lại ta sẽ thay nàng xoay xở.”
Tiểu muội hỏi:
“Xoay xở thế nào?”
“Nhiều nhất giam hai năm.”
“Nếu thái độ nhận lỗi tốt, ta lại nghĩ cách giảm xuống.”
Nói đến đây, giọng hắn thấp đi.
“Mẫu thân nàng chẳng phải sắp không qua khỏi sao?”
“Đừng kéo dài nữa.”
“Nhận chuyện này đi, ta sẽ nghĩ cách cho nàng về phương Bắc gặp bà trước.”
Tiểu muội nhìn tờ nhận tội.